Hiển thị các bài đăng có nhãn Lời Vàng Thầy Dạy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lời Vàng Thầy Dạy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2023

                               NHẬP BỒ TÁT HẠNH

                      -------------------------ೋ•--------------------------

(Đoạn pháp thoại này được Sư Phụ Long Viễn khai thị cho một số hành giả tu Đại Thừa đến tham vấn, con Hồng Tuyến kính xin lược ghi lại)

...

Hỏi: Kính bạch thầy: Thế nào là Bồ Tát hạnh?

Đáp: Bồ Tát hạnh tức là diệu hạnh của Bồ Tát hướng đến thủ chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Hỏi: Các đại Bồ Tát phải thực hành hạnh Bồ Tát ở đâu?

Đáp: Ngay nơi ngũ thủ uẩn này, tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn. Bồ Tát chiếu kiến với trí tuệ ngũ thủ uẩn vốn là Không, cũng Không luôn cái Không quán ấy, Không quán đã Không rồi xoay lại cái Không của Không cũng Không, còn Không tức chẳng phải Không, nên cũng Không luôn cái Không ấy, đến chỗ xa lìa hết thảy tư duy, bặt dứt ngôn ngữ chỉ còn lại một bầu giác tánh trạm nhiên bất động, liền nhập vào Đệ Nhất Nghĩa Không, thắng giải cùng cực các pháp, thâm nhập biển chân như thực tướng một cách chân thật. Đó là Bồ Tát thực hành hạnh Bồ Tát.

Lại nữa: Theo Kinh Đại Bát Nhã nói:

" Phải hành Bồ Tát hạnh nơi nhãn xứ cho đến ý xứ Không. Phải hành Bồ Tát hạnh nơi sắc xứ thọ đến pháp  xứ Không. Phải hành Bồ Tát hạnh nơi  nhãn giới cho đến ý giới Không. Phải hành Bồ Tát hạnh nơi sắc giới cho đến pháp giới Không. Phải hành Bồ Tát hạnh nơi nhãn thức giới cho đến ý thức giới Không. Phải hành Bồ Tát hạnh nơi nhãn xúc cho đến ý xúc Không. Phải hành Bồ Tát hạnh nơi các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra Không. Phải hành Bồ Tát hạnh nơi địa giới cho đến thức giới Không. Phải hành Bồ Tát hạnh nơi nhân duyên cho đến tăng thượng duyên Không. Phải hành Bồ Tát hạnh nơi vô minh cho đến lão tử Không."

Đúng lý mà nói thì Bồ Tát thực hành hạnh Bồ Tát khi đã chiếu kiến ngũ uẩn là Không rồi thì ai tạo tác? Ai thọ báo? Ai sở hành? Ai quán tri? Bồ Tát từng bước chánh quán mà thấy được Nhân Không và Pháp Không, ngộ và bước vào từng phần Pháp Thân của Phật. Cho nên khi liễu ngộ ngũ uẩn đều Không rồi thì nhãn xứ cho đến ý xứ cũng đều Không, cho đến sắc xứ cho đến pháp xứ cũng đều Không... cho đến nhân duyên- tăng thượng duyên cũng đều Không. Đã Không nơi cái Không, vì biết được Đệ Nhất Nghĩa Không, thì liền bước vào Tam Giải Thoát Môn: Không Giải Thoát Môn, Vô Tướng Giải Thoát Môn, Vô Tác Giải Thoát Môn mà vận hành Đại Tâm biến khắp mười phương, độ sanh không thể cùng tận, lực dụng không thể cùng tận, trí tuệ không thể cùng tận, phương tiện không thể cùng tận. Bồ Tát có thể phá diệt lưới ma, đoạn dòng khát ái, vượt thoát bộc lưu, xuất ấm giới ngục. Khi bản giác trạm nhiên hiển lộ rõ ràng rồi thì ngay nơi vô minh thực tánh tức Phật tánh, ngay nơi lão tử mà nhập vào dòng bất tử. Tại sao? Vì Bồ Tát đã thành tựu đại Tổng Trì Môn vậy.

Hỏi: Thế nào là Bồ Tát thành tựu đại Tổng Trì Môn?

Đáp: Khi các căn trong sáng thì trần cảnh cũng trong sáng, khi trần cảnh trong sáng thì tất cả pháp đều trong sáng, khi tất cả các pháp đều trong sáng nên Mười Lực, Bốn Vô Uý, Bốn Vô Ngại Trí, Mười Tám Bất Cọng Pháp, Bảy Bồ Đề Phần, cho đến tám mươi bốn ngàn Tổng Trì Môn đều trong sáng cả. Đó là Bồ Tát chứng được đại Viên Giác của Như Lai, cũng gọi là Bồ Tát thâm chứng nhất thiết đại Tổng Trì Môn. 

Tuy nhiên, ông phải biết Bồ Tát muốn thâm nhập kho tạng bí mật của Như Lai mà thâm chứng nhất thiết Môn Tổng Trì thì Bồ Tát phải ứng dụng tu tập đúng với trí tuệ, Bồ Tát phải biết nương tựa vào các pháp này mà tu, mà hành Bồ Tát đạo như người muốn qua sông phải nương thuyền bè... không thể không nương tựa, không hành thâm mà nhập vào biển Viên Giác được. Đó là các pháp gì mà Bồ Tát phải nương tựa, tu tập khi hành Bồ Tát đạo? Như Kinh Đại Bát Nhã nói:

- Phải nương tựa vào Lục Độ tức là Bồ Thí Ba La Mật cho đến Bát Nhã Ba La Mật.

- Phải nương vào pháp nội Không cho đến pháp vô tự tính Không. 

- Phải nương vào chân như cho đến cảnh giới bất tư nghì để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào Tứ Thánh Đế là Khổ, Tập, Diệt, Đạo Thánh Đế. 

- Phải nương vào Bốn Niệm Trụ cho đến Tám Chi Thánh Đạo. 

- Phải nương vào Bốn Tịnh Lự để hành Bồ Tát hạnh.

- Phải nương vào Bốn Vô Lượng để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào Bốn Định Vô Sắc để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào Tám Giải Thoát để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào Tám Thắng Xứ để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào Chín Thứ Đệ Định để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào Mười Biến Xứ để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào Ba Giải Thoát để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào Thập Địa để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào tất cả pháp môn Đà-la-ni để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào tất cả pháp môn Tam-ma-địa để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào Ngũ Nhãn để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào Lục Thông để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào Mười Lực Như Lai để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào Tứ Vô Uý để hành Bồ Tát hạnh.

- Phải nương vào đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xã để hành Bồ Tát hạnh.

 - Phải nương vào Mười Tám Pháp Bất Cọng Trụ để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả để hành Bồ Tát hạnh.

 - Phải nương vào Nhất Thiết Trí, Trí Đạo Tướng, Trí Nhất Thiết Tướng để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào việc trang nghiêm cõi Phật để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào việc thành thục hữu tình để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào việc phát sanh văn tự Đà-la-ni để hành Bồ Tát hạnh.

- Phải nương vào việc ngộ nhập văn tự Đà-la-ni để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào việc ngộ nhập không văn tự Đà-la-ni để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào việc làm phát sanh biện tài vô ngại để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào cảnh giới Hữu Vi để hành Bồ Tát hạnh. 

- Phải nương vào cảnh giới Vô Vi để hành Bồ Tát hạnh.

Khi Bồ Tát tu hành Bồ Tát đạo không phân biệt các tướng: nhị biên, nhị nguyên... cũng không phá hoại các tướng, có nhiều người không rõ không biết thế nào là tu hạnh Bồ Tát, chỉ căn cứ vào thức tình điên đảo với một số kiến thức về Đại Thừa rồi mở miệng như Thánh nhưng sở hành thì đúng là vô văn phàm phu, mở miệng dạy người đã tu hạnh Bồ Tát thì không trụ, không chấp vào những sở hành của mình... nhưng hỏi lại diệu hành chân thật của Bồ Tát thì họ hoàn toàn không biết gì, diệu hạnh không biết thì chánh trí như lý đối với thật tướng các pháp làm sao biết? Chánh trí không sanh thì cảnh giới Viên Giác Như Lai làm sao thể nhập và viên chứng? Hỏi đến thì tung hoả mù bằng cái kiến thức tánh Không, nhưng lại không có phần thể nhập vào Không tánh. Không tánh đã không hội được thì kiến thức đó lấy gì làm chỗ sở y? Họ chỉ dối gạt được những người các căn ám độn, chưa từng biết gì về Bồ Tát hạnh. Những người này tự phá pháp tướng, khi thân hoại mạng chung đoạ vào địa ngục không kịp trở tay, khi thọ báo địa ngục xong lại triển chuyển vào súc sanh đạo phải làm trâu, làm bò, làm chồn vô lượng kiếp như Kinh Giải Thâm Mật đã từng nói. Tôi chân thành khuyến thỉnh các vị nếu chưa thật chứng ngộ lý Không, chưa thật sự liễu ngộ được Giác Tánh, chưa thâm nhập kho tàng Viên Giác của Như Lai, chưa thật sự tách rời ngôn ngữ với cái biết rất Thánh siêu việt tầm tư... thì đừng tự phá pháp tướng mà đoạ lạc đời đời! 

Nếu Bồ Tát tu Bồ Tát hạnh, thực hành đúng như những gì tôi lược nói ở trên thì mau chóng vào biển trí giác không tịch của Như Lai, mau chứng quả Vô Thượng Bồ Đề. 

...



Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2022

BỐ THÍ NHƯ PHÁP

ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU


(Đoạn Pháp thoại ngắn này được Sư Phụ Long Viễn khai thị cho một đoàn Phật tử hữu duyên ghé thăm chùa Phật Đảnh Bào Vương)


Hỏi: 

Kính bạch Thầy! Chúng tôi là những doanh nghiệp, xưa giờ thỉnh thoảng đi chùa nhưng ít có dịp tìm hiểu Phật pháp. Chúng tôi thấy những người đi chùa thường hay bố thí, trong khi mọi người đều có chân tay, đầu óc ... họ có thể tự làm tự ăn, nếu họ bần cùng là do quả báo của họ. Bố thí có lợi ích gì? Lý do nào mà đệ tử Phật phải bố thí? Xin Thầy từ bi chỉ dạy!

Đáp: “Bố Thí” là âm Hán Việt, gồm chữ “Bố” và chữ “Thí”. “Bố” là bày ra, ban cho, ban rộng ra, trải khắp nơi... “Thí” còn đọc một âm khác là “Thi”, nghĩa là hiển lộ, thực hiện, áp dụng, làm ngay... “Bố thí” có nghĩa là ban bố cùng khắp, ban cho tất cả ...

Bố thí có đủ thứ lợi ích, như Đại Trí Độ Luận nói: "Bố thí là kho báu, thường theo dõi người. Bố thí làm diệt khổ, đem vui cho người. Bố thí là kẻ đánh xe giỏi mở bày con đường chư thiên. Bố thí là điệu phù tốt thu nhiếp các người lành (thu nhiếp người lành cùng làm nhân duyên). Bố thí là an ổn, khi sắp mệnh chung tâm không sợ hãi. Bố thí là tướng từ tâm, hay cứu chúng sanh. Bố thí là nhóm điều vui, hay phá giặc khổ. Bố thí là đại tướng hay dẹp kẻ địch xan tham. Bố thí là diệu quả được trời người ưa thích. Bố thí là con đường thanh tịnh, hiền thánh dạo đi. Bố thí là cửa chứa phước đức lành. Bố thí là cái duyên để xây dựng nghiệp, quy tụ chúng. Bố thí là hạt giống thiện hành thọ quả. Bố thí là phước nghiệp, tướng của người lành. Bố thí phá nghèo cùng, dứt ba đường ác. Bố thí hay trọn vẹn được quả phước lạc. Bố thí là cái duyên ban đầu của Niết-bàn, là pháp thiết yếu để đi vào trong nhóm người lành, là nguồn phủ của sự tán thán khen ngợi, là công đức để vào giữa chúng không khó khăn, là hang nhà của tâm không hối hận, là căn bản của thiện pháp đạo hành, là rừng rậm của mọi điều hoan lạc, là ruộng phước của giàu sang an ổn, là bến bờ của sự đắc đạo Niết-bàn, là sở hành của Thánh nhân, đại sĩ, trí giả, là chỗ bắt chước của các người kém đức ít biết."

Hay như Đức Phật cũng dạy bố thí có năm lợi ích: 

1. Được nhiều người ưa thích mến mộ.

2. Được thiên nhân và các bậc chân nhân thân cận.

3. Tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi.

4. Không có sai lệch pháp của người gia chủ.

5. Khi thân hoại mạng chung được sinh lên cõi lành thiên giới.

Đặt biệt, có tám lý do mà chúng ta hành bố thí, các vị hãy lắng nghe suy nghĩ và khéo tác ý! Thế nào là tám?

1. Chúng ta thực hành bố thí là vì tình thương yêu với nhau, giữa con người với con người, giữa con người với vạn vật.

2. Chúng ta bố thí có thể vì tâm sân hận.

3. Chúng ta bố thí có thể vì tâm ngu si.

4. Chúng ta bố thí có thể vì sự sợ hãi.

5. Chúng ta cũng có thể bố thí với ý nghĩ: "Trước kia ông cha ta đã bố thí, trước đây các người đã làm; vì thế ta sẽ không xứng đáng nếu ta từ bỏ truyền thống gia đình này!"

6. Chúng ta bố thí có thể với ý nghĩ: "Bằng cách bố thí này ta sẽ tái sanh vào cõi tốt đẹp, vào thiên giới, sau khi chết."

7. Chúng ta bố thí cũng có thể do ý nghĩ: "Khi bố thí như thế này, tâm ta sẽ an vui, hạnh phúc và hỷ lạc sẽ khởi sanh trong ta!"

8. Chúng ta có thể thực hành bố thí vì hành động này làm tâm cao thượng, làm tâm trang nghiêm.

Đấy là tám lý do để chúng ta thực hành bố thí, điều này đã được Đức Thế Tôn chỉ dạy trong Kinh Tăng Chi rất rõ ràng. 

Cũng có câu chuyện thế này:

Thuở Ðức Phật còn tại thế, Ngài đi khắp nơi để giáo hóa chúng sanh. Lúc bấy giờ có một vị Trưởng giả rất giàu, kho tàng dẫy đầy, tôi tớ đông đảo, Trưởng giả ấy là em của Ngài Ðại Mục Kiền Liên.
Một hôm, Tôn giả Mục Liên đến nhà em, bảo rằng: “Tôi nghe chú không ưa bố thí, điều ấy rất không tốt. Ðức Thế Tôn thường dạy: “Người nào hay bố thí, sẽ được hưởng phước báo không lường”. Nay chú được giàu sang như thế này, là do công đức huệ thí từ kiếp trước. Nếu chú cứ ôm lòng lẩn tiếc chẳng những hưởng phước không được bao lâu, mà đời sau do nghiệp bỏn xẻn sẽ mang thân ngạ quỷ, khốn khổ vô cùng.

Nghe lời anh dạy, Trưởng giả mở rộng kho tàng, cúng dường Tam bảo châu cấp cho kẻ nghèo thiếu. Trong khi ấy, ông lại cất thêm kho vựa mới, ý muốn thâu chứa, những của cải, mình sẽ được do phước bố thí, nhưng chưa được bao lâu thì tiền của tiêu mòn, kho cũ đã hết, mà kho mới cũng trống trơn, trưởng giả sanh lòng ảo não, đến thưa với Ngài Mục Liên rằng: Khi trước anh bảo: “Bố thí sẽ được nhiều phước báo” tôi không dám trái lời dạy, đem tất cả ra làm việc phước đức, nay kho tàng đã hết sạch, nhưng phước báo đâu không thấy, hay là tôi đã bị lầm lạc vì anh chăng?”

Tôn giả Mục Liên bảo: “Chú chớ nên nói lời ấy! Chớ nên gây tà kiến cho những kẻ ngu mê! Nếu phước đức đều có hình tướng, thì cảnh giới hư không, dung chứa vào đâu cho hết. Tuy nhiên, nếu chú muốn, tôi có thể chỉ cho thấy một phần ít quả báo của sự bố thí.”

Nói đoạn, ngài Mục Liên dùng sức thần thông đem em lên đến một phương vức ở cõi trời. Nơi đây, một bầu trời thế giới trân kỳ hiển hiện: Lầu các rộng rãi bao la, cảnh trí vui tươi sáng suốt, ao thất bảo gió thơm thanh khiết, hoa Mạn Ðà vẻ đẹp thần tiên! Trưởng giả mục kích sững sờ, ngơ ngẩn, nhìn đông quên tây, lại thấy từ trong cung điện lộng lẫy, chậm rãi đi ra một đoàn ngọc nữ.

Trưởng giả liền hỏi anh rằng: “Ðây là cảnh nào mà phong cảnh xinh tươi như thế? Sao tôi chỉ thấy toàn là người nữ, không có nam nhơn? “Tôn giả Mục Liên bảo: “Chú hãy đến hỏi ngay mấy nàng kia, sẽ được biết rõ”. Trưởng giả đem những lời ấy hỏi, thiên nữ đáp: “Ðây là cung trời Ðao Lợi, chúng tôi ở chốn này đã lâu hưởng phước tự nhiên, những thức ăn mặc tùy niệm hiện ra, không cần phải nhọc sức tạo tác. Bao nhiêu cung điện và tất cả sự trang nghiêm tốt đẹp nơi đây, cho đến sắc thân thanh khiết xinh tươi của chúng tôi, đều là kết quả của sự bố thí. Ngài muốn biết ngài trượng phu của chúng tôi ư? Người ấy không ai xa lạ, chính là những vị nào siêng tu phước đức. Hiện nay, ở cõi nhân gian, về xứ Ca Tỳ La Vệ, Tôn giả Mục Liên vị đệ tử thần lực của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni có một người em ưa bố thí, người ấy không bao lâu mạng chung, sẽ thác sanh lên đây và sẽ là người chủ quản của chúng tôi sau này”.

Nghe thiên nữ nói, trưởng giả bỗng nhiên vui mừng khấp khởi, cảm phát lòng lành, liền trở về chỗ Ngài Mục Liên thuật lại mấy lời ấy. Tôn giả mỉm cười, hỏi gạn lại: “Thế nào? Sự bố thí có phước báo hay không? “Trưởng giả hổ thẹn, sám hối. Sau khi trở về nhân gian, ông lại càng bố thí nhiều hơn và khuyến khích người khác làm theo, không lúc nào biết chán nản.

Thuở xưa, ở thành Xá Vệ có Vị trưởng giả, một ông tên là Tối Thắng, một ông tên là Nan Hàng. Cả hai đều rất giàu có, bảy báu đầy đủ, voi, ngựa, xe cộ, tôi trai, tớ gái đông đúc, ruộng vườn sự sản vô cùng to tát. Nhưng, về tánh tham lam, bỏn xẻn của hai ông này, ở trong nước thật không ai hơn. Trưởng giả Tối Thắng cũng như Nan Hàng, mỗi ông đều xây tường thành cao, làm bảy lớp cửa, dặn gia nhân đừng cho kẻ ăn xin vào nhà. Chưa lấy thế làm đủ, hai ông còn sắm những tấm lưới sắt che giăng khắp trên sân, vì sợ loài chim bay xuống mổ lúa thóc. Cho đến các kho vựa, cũng đều làm bằng sắt, quyết không để loài chuột xoi khoét vào cắn phá đồ vật.

Nghe tiếng hai ông trưởng giả keo bẩn, năm vị đệ tử lớn của Ðức Phật tuần tự nhau dùng phép thần thông, phân thân đi đến mỗi nhà, từ dưới đất bay lên, thuyết pháp giáo hóa. Nhưng kết cuộc, hai ông trưởng giả chẳng nghe lời giảng dạy. Sau rốt, Ðức Phật cũng dùng phép phân thân đi đến, hiện thần lực, ngồi nằm giữa hư không, phóng ánh sáng rực rỡ soi khắp mọi nơi, nói ra pháp màu nhiệm, hai vị trưởng giả tai nghe, nhưng còn chưa hiểu thấu đều tự nghĩ rằng: “Nay Ðức Thế Tôn đã đến nhà, ta không nên để cho Ngài về không” nghĩ như thế, mỗi ông tự vào kho lấy vải để đem ra cúng Phật. Vì còn nặng lòng tham tiếc, hai ông định lựa vải xấu, nhưng lấy lầm phải thứ tốt, khi trở vào đổi, lại lấy thứ khác tốt hơn. Bây giờ, cả hai tâm ý phân vân, nửa muốn đem ra, nửa muốn cất vào, băn khoăn không nhất định.

Lúc ấy, Ðức Phật dùng thiên nhãn xem thấy chư thiên đang đánh với A Tu La, khi được hơn khi bị thua, kia là quả báo của tâm trạng hơn kém trong khi bố thí. Ðức Thế Tôn lại quán sát, đến tâm của hai vị trưởng giả, thì thấy lúc có tâm bố thí hơn, tâm bỏn xẻn thua, có lúc tâm bỏn xẻn hơn, tâm bố thí thua, Ngài liền nói bài kệ rằng:

“Bố thí như chiến tranh
Ðiều ấy Phật không khen
Khi thí là khi đánh
Hai việc ấy đồng nhau”.

Hai vị trưởng giả nghe xong, trong lòng hổ thẹn, cho rằng Ðức Phật đã nói ngay tâm trạng của mình, mỗi vị đều đem vải tốt ra dâng cúng Phật. Cúng dường xong, cả hai tâm trí sáng suốt, đều chứng được đạo quả.

Lại nữa, cũng trong Kinh Tăng Chi Bộ III, có dạy như sau:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, mẹ của Nanda, nữ gia chủ người Velukandaki làm một thí vật gồm có sáu phần cúng dường chúng Tăng. Bấy giờ, Thế Tôn với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhiên thấy mẹ của Nanda làm một thí vật gồm có sáu phần liền bảo các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, có ba phần thuộc về người bố thí và có ba phần thuộc về người nhận vật phẩm bố thí. Thế nào là ba phần thuộc về người bố thí? Này các Tỷ kheo, người bố thí, trước khi bố thí, ý được vui lòng; trong khi bố thí, tâm được tịnh tín; sau khi bố thí, cảm thấy hoan hỷ. Đây là ba phần của người bố thí. Thế nào là ba phần của người nhận phẩm vật bố thí? Ở đây này các Tỷ kheo, những người nhận phẩm vật bố thí, đã được ly tham hay đang thực hành hạnh ly tham; đã được ly sân hay đang thực hành hạnh ly sân; đã được ly si hay đang thực hành hạnh ly si. Đây là ba phần của người nhận phẩm vật bố thí. Như vậy, này các Tỷ kheo, đây là thí vật có sáu phần.

Này các Tỷ kheo, công đức của thí vật sáu phần thật vô lượng: “Là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, món ăn an lạc, thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, hạnh phúc và an lạc”.

Cho nên việc bố thí có lý do như thế và có lợi ích như thế, người có trí tuệ phải nên suy nghĩ để thường hành bố thí. Trong Kinh Tăng Chi Bộ II, Đức Phật cũng dạy vì sao chúng ta phải nên bố thí:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Sumanà, con gái vua cùng năm trăm thiếu nữ hộ tống, đi đến đảnh lễ và bạch Thế Tôn:

Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai đệ tử của Thế Tôn đồng đẳng về tín, đồng đẳng về giới, đồng đẳng về tuệ, một có bố thí, một không bố thí. Sau khi thân hoại mạng chung, cả hai vị ấy được sanh lên cõi trời hoặc sanh lại cõi người thì giữa hai vị ấy, có sự đặc thù gì, có sự sai khác gì?

Có sự sai biệt, này Sumanà!

Người có bố thí, khi được làm một vị trời hoặc được làm người đều vượt qua người không bố thí trên năm phương diện. Đó là thọ mạng, nhan sắc, an lạc, danh xưng và tăng thượng. Người có bố thí, này Sumanà, khi được làm vị trời hoặc được làm người đều vượt qua người không bố thí về năm phương diện này.

Các vị muốn thực hành hạnh bố thí viên mãn thành tựu để xuất sanh phước báu vô lượng và công đức thì nên y theo năm pháp này. Năm pháp này đã được nói đến trong Ưu Bà Tắc Giới Kinh:

1. Không lựa người có đức hay không đức

2. Chẳng nói việc tốt xấu

3. Chẳng kể dòng họ thân-sơ

4. Chẳng xem thường người xin

5. Không mắng chửi người nhận

Tuy nhiên các vị cũng nên biết thêm rằng: Bố thí phải đúng như pháp thì quả lành mới thành tựu được. Có năm cách bố thí mà không có phước báu, đã được Đức Thế Tôn khai thị trong Kinh Tăng Nhất A Hàm II, chúng ta nên lưu tâm để ý:

1. Lấy dao thí cho người.

2. Lấy độc thí cho người.

3. Lấy bò hoang thí cho người.

4. Lấy dâm nữ thí cho người.

5. Tạo các miễu thần.

 Và ngược lại cũng có năm việc bố thí khiến được phước lớn. Thế nào là năm? 

1. Tạo vườn cảnh.

2. Tạo rừng cây.

3. Tạo cầu đò.

4. Tạo thuyền lớn.

5. Tạo phòng xá trụ xứ cho người qua lại.

Bài kệ này đã được Đức Như Lai nói lên khi Ngài tuyên thuyết xong về bố thí không có phước báu và bố thí phát sanh phước báu lớn, ở trên:

"Vườn cảnh thí mát mẻ

Và tạo cầu đò tốt

Bến sông đưa mọi người

Và làm phòng nhà tốt

Người đó trong ngày đêm

Hằng sẽ nhận được phước

Giới định đã thành tựu

Người này ắt sanh thiên."

Lại nữa, trong Tăng Chi Bộ, Đức Phật dạy: "Này các Tỳ-kheo, có tám sự bố thí của bậc chân nhân. Thế nào là tám? Cho vật trong sạch; cho vật thù diệu; cho đúng thời; cho vật thích ứng; cho với sự cẩn thận; cho luôn luôn; khi cho tâm tịnh tín; sau khi cho tâm luôn hoan hỷ".

Hỏi: 

Thưa Thầy! Ý nghĩa bố thí chúng con đã hiểu. Thầy cho con hỏi: Nếu người nghèo khổ bần cùng thì làm sao mà thực hành bố thí được?

Đáp: 

Kinh Nhân Quả nói: “Này, Thiện nam tử! Dầu cho những kẻ bần cùng trong thiên hạ đi nữa, đâu phải họ không có cái thân, nếu họ không có vật chi bố thí, thì mỗi khi thấy người khác tu bố thí, họ đem thân đến mà hiệp lực giúp đỡ.”  Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, Đức Phật cũng dạy: “Nếu có người bần cùng, không của bố thí, khi thấy kẻ khác bố thí thì nên khởi tâm tuỳ hỷ (tức là vui theo việc bố thí của người khác), phước báu tuỳ hỷ ngang với phước báu của kẻ bố thí không khác. Ấy là việc rất dễ làm.”

Các vị đã có duyên gặp được Phật pháp, nên phát khởi tâm lành thường hành bố thí để hướng đến hiện tại an lạc, sung mãn tài bảo, sức khỏe, tăng trưởng thiện căn, nghiệp chướng tiêu trừ, thành tựu nguyện ước... tương lai tái sanh cõi lành. Nếu có cơ hội làm thiện, có cơ hội bố thí mà không làm thì thật đáng thương xót, khi tử thần mang cái chết đến thì: Ôi thôi! Ô hô! Như người xưa nói:

"Tam thốn khí tại thiên ban dụng

Nhất đán vô thường vạn sự hưu”

Nghĩa là:

"Khi hơi thở còn thì lo tính đủ thứ

Lúc vô thường đến thì mọi việc cũng buông xuôi."

Lại nữa, người có trí tuệ lớn, bậc hữu tâm mới hay giác ngộ, biết thân như huyễn, tiền của không thể bảo toàn; vạn vật vô thường, chỉ có phước đức là có thể nương cậy, đưa người ra khỏi biển khổ, là bến thông đạo lớn.

Khi vô thường mang cái chết đến thì ăn năng hối hận đã không còn kịp nữa. Như Ngài Santideva từng nói:

"Có cơ hội làm thiện 
Mà bỏ qua không làm 
Liệu tôi làm được gì 
Khi thống khổ bức bách? 

Nếu không làm việc thiện
Chỉ toàn làm việc ác 
Dù trải qua muôn kiếp 
Vẫn không biết cõi lành."

Lại nữa, chúng ta phải biết:  Người ưa bố thí, được người kính phục, người ưa bố thí, được quý nhân tưởng nhớ, tiện nhân kính trọng, khi sắp mạng chung, tâm không sợ hãi... Ngài Shantideva dạy tiếp:

"Đức Thế Tôn dạy rằng 
Thân người khó được thay 
Như rùa mù dưới biển 
Cổ ngoi lên trúng ngay
Vào lỗ ván phiêu bồng. 

 Phạm tội nặng chốc lát 
Đã phải bị đọa đày
Vào địa ngục vô gián
Vậy với tội muôn kiếp 
Làm sao sinh cõi lành?" 

các vị nên biết phạm một tội nhỏ thôi, cũng đọa địa ngục bằng 500 tuổi thọ của cõi trời Tứ Thiên Vương. Tứ Thiên Vương là tầng trời thấp nhất trong 6 tầng trời cõi Dục. Về thọ mạng của Tứ Thiên Vương là 500 tuổi (một ngày đêm ở đây bằng 50 năm ở nhân gian). Nếu phạm tội nhỏ thôi mà cũng đọa địa ngục bằng 500 tuổi thọ của cõi trời này, các vị nhân lên thì biết mình đọa lạc thời gian trong địa ngục dài như thế nào. Mà trong đời sống khi vô tình, khi cố ý chúng ta tạo biết bao nhiêu điều tội lỗi? Chúng ta có biết được không? Tội nhỏ còn như thế huống gì tội lớn sẽ như thế nào? Nghĩ đến đây mà giật mình kinh hãi, thật đáng sợ thay! Thật đáng răng dè! Ngài Shantideva dạy tiếp:

"Chờ trả xong ác báo
Cũng khó thoát địa ngục
Bởi trong lúc trả nghiệp 
Lại gây thêm tội mới. 

Khi được thân con người
Là được cơ hội tốt
Cho công việc tu hành
Nếu bỏ cơ hội ấy
Thật không gì điên hơn.

Nếu đã biết như vậy 
Mà vẫn ngu si, lười
Khi thần chết gõ cửa 
Sẽ đau khổ dường bao. 

Lửa địa ngục hừng hực

Đốt thân tôi nhiều kiếp 
Và ngọn lửa ăn năng
Càng hành hạ tâm can.

Thật khó hiểu vì sao
Tôi có được thân người
Khi nhận biết điều này 
Thì rơi vào địa ngục!"

Hôm nay hữu duyên các vị về đây, nhân duyên thưa hỏi, tôi cũng đã vì các vị mà nói sơ lược về lý do bố thí, bố thí như thế nào... Người xưa từng nhắc nhở chúng ta:

"Đã biết chốn ni là quán trọ
Hơn, thua, hờn oán.. để mà chi!
Thử ra ngồi xuống bên phần mộ
Hỏi họ mang theo được những gì!"

Cuộc sống là thế, đời người chóng qua, nhưng mấy ai suy nghĩ đến? Dẫu có suy nghĩ cũng ít người chuyên tu thiện nghiệp, cái chết là cái mà ai ai cũng phải trải qua, anh như thế, tôi cũng như thế! Khi tứ đại ngã xuống rồi thì của cải, tiền tài, nhà cửa, con cái... đều bỏ lại hết; chỉ có nghiệp thiện và nghiệp ác hằng theo mình mà thôi. Như Tôn Giả Shantideva cảnh báo:

"Do tâm nguyện hướng thiện
Mà làm nhiều việc lành
Đến đâu cũng gặp được
Những phước báo hiện tiền.

Những kẻ làm điều ác
Dù cầu mong hạnh phúc
Đến đâu cũng khổ đau
Do gặp quả báo ác."

Như trong Kinh Nikaya, có vị chư Thiên đến hỏi Đức Phật:

"Cho gì là cho lực?

Cho gì là cho sắc?

Cho gì là cho lạc?

Cho gì là cho mắt?

Cho gì cho tất cả?

Xin đáp điều con hỏi!"

Đức Thế Tôn dạy:

"Cho ăn là cho lực.

Cho mặc là cho sắc.

Cho xe là cho lạc.

Cho đèn là cho mắt.

Ai cho chỗ trú xứ,

Vị ấy cho tất cả.

Ai giảng dạy Chánh pháp,

Vị ấy cho bất tử!"

Mọi người chắc ai cũng biết bố thí có ba loại, đó là tài thí, pháp thí và vô úy thí. Tài thí có nghĩa là bố thí tiền của, vật thực, chăm sóc sức khỏe... Tài thí gồm có nội thí và ngoại thí. Nội thí là bố thí những gì trong cơ thể chúng ta: Hiến máu, hiến những bộ phận trong cơ thể của mình. Còn ngoại thí là bố thí những đồ vật bên ngoài: tiền bạc, vật chất, nhà cửa... Tài thí chân chánh là những gì mình bố thí không phải do cướp giật, lừa gạt, trộm cắp... mà có.  Pháp thí tức là bố thí pháp, khiến nghe nghe bỏ ác làm lành, thấy được tội lỗi mà ăn năng sám hối, hiểu được chân lý, giúp chúng sanh chứng ngộ hiện tại lạc trú... Pháp thí là loại bố thí ưu thắng, vì có thể khiến cho chúng sanh đạt được sự bất tử, tức là làm chủ sống chết, đoạn tận khổ đau, chứng ngộ Niết- bàn. Còn vô úy thí tức là bố thí sự không sợ hãi. Bố thí sự không sợ hãi này hệ thuộc và tài thí và pháp thí, đồng thời cũng nhiếp cả tài thí và pháp thí. 

Sự bố thí được xem là thanh tịnh và đem lại phước đức và quả báo lớn thù thắng thì cần phải có đủ ba yếu tố sau:

1) Người bố thí phải có tâm thanh tịnh, trong sạch.

2) Vật được thí phải chân chánh.

3) Người nhận phải được kính trọng tối đa.

Đức của bố thí đưa đến giàu sang an lạc, người trì giới thì được sanh lên trời, thiền trí tâm tịnh, không có nhiễm trước, thời được đạo Niết-bàn. Phước của bố thí là tư lương của đạo Niết-bàn. Người thường niệm tưởng bố thí nên hoan hỷ, hoan hỷ nên nhất tâm, nhất tâm quán lý sanh diệt vô thường nên đắc đạo. Cũng như người mong có bóng mát mà trồng cây, hoặc mong có hoa, hoặc mong có quả mà trồng cây. Bố thí vì mong được quả báo cũng như vậy. Đời này, đời sau vui như mong bóng mát. Đạo Thanh-văn, Bích-chi Phật như hoa, thành Phật như quả, ấy là các thứ công đức của bố thí. Các vị nên nghiêm túc suy nghĩ, cố gắng thực hành bố thí, hãy tự răng dè mình mà cần dõng tu hành thiện pháp. 

Cố gắng!

Cố gắng!





Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2022

            THẾ NÀO LÀ HÀNH GIẢ CỦA PHÁP?


Một hôm có một hành giả đến thăm Sư Phụ Long Viễn, và đoạn pháp thoại ngắn sau đây được nói lên khi hành giả ấy cung kính thưa hỏi:


Hỏi: 

- Có bao nhiêu cách tạo ra công đức?

Đáp: 

- Có ba cách tạo ra công đức!

Hỏi: 

- Ba cách đó là gì?

Đáp: 

Ba cách tạo ra công đức đó là:

- Có cách tạo công đức bằng bố thí

- Có cách tạo công đức bằng trì giới

- Có cách tạo công đức bằng tu tập thiền định.

Hỏi: 

- Xin Thầy từ bi chỉ rõ sự khác biệt giữa phước đức và công đức được không?

Đáp:

- Người tạo ra phước đức là để được hưởng, vì hưởng nên phải giữ lấy, vì giữ lấy nên dính vào và đi theo dòng luân hồi của nó. Tức là người tạo tác thiện hạnh nhưng tâm còn chấp thủ vào việc mình làm, còn thấy có mình làm, có đối tượng nhận và vật phẩm mình bố thí... cùng với quả dị thục mà những thiện hạnh mình làm mang lại.

- Còn công đức thì nhìn vào trong tự tánh, ngay nơi pháp tánh mà hiển bày, có thể nương vào hành động tạo tác thiện lợi cho mình, cho người và cho tất cả chúng sanh: Bố thí, trì giới, thiền định nhưng trong tâm thanh tịnh, bình đẳng, không có phân biệt, không có chấp trụ; không lìa tự tánh thanh tịnh mà ứng dụng diệu tánh không nhiễm khi đối cơ ứng vật, tâm giác chiếu thường tri minh liễu những việc mình làm, sở hành tạo tác những thiện hạnh vì mục đích chứng ngộ Đại Bồ Đề. Mà Bồ Đề vốn không có nơi chỗ, chân thật là tự tác, tự giác, tự minh, tự liễu, tự chiếu, tự soi giác tánh ở nơi mình không thể tìm cầu bên ngoài mà được! Cho nên Đức Phật được gọi là Đại Giác Bồ Đề!... Đó là công đức. 

Ví như Xưa Lục Tổ Huệ Năng có dạy ông Vi công như sau:

“Vi công hỏi Ngài Lục Tổ Huệ Năng: Đệ tử nghe chuyện Đạt Ma thuở xưa giáo hóa cho Lương Võ Đế. Vua hỏi: “Một đời trẫm cất chùa, cúng dường tăng, bố thí, ăn chay, có công đức gì không?”. Đạt Ma đáp: “Thật không công đức gì”. “Đệ tử chưa hiểu lẽ ấy, xin hòa thượng giảng giải cho”.

Sư đáp: “Thật không có công đức. Đừng nghi ngờ lời của bậc Thánh đời trước. Võ Đế lòng mê, chẳng rõ pháp chánh. Cất chùa, cúng dường tăng, bố thí, ăn chay, gọi là cầu phước. Không thể lấy phước ấy mà xem là công đức. Công đức ở nơi Pháp thân, chẳng phải ở sự tu phước”.

Sư lại nói: “Thấy tánh là công, bình đẳng là đức. Mỗi niệm tưởng không ngăn ngại, thường thấy bản tánh, chân thật diệu dụng, gọi là công đức. Trong lòng khiêm nhượng là công, việc làm theo lễ là đức. Tự tánh sanh ra muôn pháp là công, tâm lìa vọng niệm là đức. Chẳng rời tự tánh là công, ứng dụng mà không đắm nhiễm là đức. Muốn tìm Pháp thân công đức, cứ nương theo đó mà làm, ấy là công đức chân thật. Nếu người tu công đức thì lòng chẳng khinh mạn, thường cung kính hết thảy. Lòng hay khinh người, tánh tự tôn chẳng dứt là tự mình không có công, tánh hư vọng chẳng thật là tự mình không có đức. Vì tánh tự đại tự tôn, nên thường khinh hết thảy.

“Các vị thiện tri thức! Chánh niệm không gián đoạn là công; trong tâm công bình, chánh trực là đức. Tự tu tánh mình là công, tự tu thân là đức.

Các vị thiện tri thức! Công đức nên nhìn từ trong tự tánh, không phải do bố thí, cúng dường mà cầu được”.

Khá không rõ lắm ư? Ông nên giác chiếu lại sở hành tạo tác của mình, minh liễu tự tánh mà ứng dụng linh tri ly niệm khi đối cơ ứng vật. Là một hành giả cần phải biết rõ mình là ai? Mình từ đâu đến? Mình đến đây để làm gì? Khi chết mình về đâu? Không phải tìm cầu thử thách người này người kia để minh chứng mình hay, mình giỏi. Hay đó! Giỏi đó! Có lợi ích gì khi quỷ vô thường mang cái chết đến? Hay ư? Giỏi ư? Có làm chủ được sanh già bệnh chết không? Tôi có thể tuyên bố với ông: "Không ai có thể chiến thắng nổi tôi! Vì tôi đã chịu thất bại rồi!" Ông hãy nhớ kỹ:

Chớ phóng niệm tìm cầu tri thức mà quên mất tự tánh của chính mình!

Chớ buông lung theo dục tình mà điên đảo với ma ý!

Chớ đắm mình bi lụy theo dòng chảy thế gian!

Chớ uất hận khóc than khi sanh ly tử biệt!

Chớ chạy theo mãi miết với bóng dáng tiền trần!

Chớ ham đắm sắc thân vì vô thường nuốt mất!

Chớ như con Lật Đật không phân biệt thị phi!

Chớ ngu si tạo tác ác hành để đi vào đọa lạc!

Nghiệp lực vốn không tha ai cả và nhân quả rất công bằng!

Hãy quán tri:

Diệu tánh vốn vô tướng

Diệu tánh vốn nguyên minh

Diệu tánh luôn hiển bày

Diệu tánh vô phân biệt!

Và:

Ở ngay đây: Vốn là Tịnh Độ!

Ở ngay đây: Chính là Niết Bàn!

Tìm Phật vốn không thể lìa tự tánh mà được! Nếu ông phóng tâm ra ngoài chính là chánh điên đảo, một  khi chân thật xoay trở vào chính là chánh biến tri!

Cố gắng!

Cố gắng!


Hành giả nghe xong cuối đầu chấp tay xá lễ, khuôn mặt trở nên cương nghị lạ thường, đôi mắt long lanh ần ận nước nhưng sáng rực phi phàm... phải chăng ông đã ngộ được gì với diệu nghĩa mà Sư Phụ từ bi huấn thị?






Thứ Năm, 2 tháng 6, 2022

             NHỚ VÀ QUÊN 


Một hôm có một hành giả cư sĩ đến thăm Sư Phụ Long Viễn, sau khi đảnh lễ hỏi thăm xong, vị cư sĩ kia trịnh trọng thưa hỏi:

Hỏi: Kính bạch Thầy! Có những việc con không tài nào hiểu được?

Đáp: Có việc gì không hiểu, Ông có thể tùy ý mà hỏi, nếu biết tôi sẽ thuận theo ý Ông mà trả lời!

Hỏi: Kính bạch Thầy! Có những khi con cố gắng học, con học rất nhiều nhưng lại không nhớ gì cả. Còn có khi những gì con đã học, học rất lâu rồi, lại tự nhiên nhớ ra, không hiểu nguyên nhân tại sao?

Đáp: Ông nên tuệ tri rằng: Nếu người để nội tâm đắm chìm trong tham dục, say mê tham dục, ám ảnh bởi tham dục, không biết được con đường xuất ly khỏi tham dục, thì người này không biết và cũng không thấy với trí tuệ như thật về những thiện hạnh của mình làm, hay những thiện hạnh của người khác làm, hay những điều thiện của cả hai. Lúc ấy do tâm hướng dục, tham dục, ái dục, chi phối bởi dục, dục sanh, dục trú trong tâm... nên có những khi Ông cố gắng học, Ông học rất nhiều nhưng lại không nhớ gì cả.

Lại nữa, khi tâm Ông bị sân hận chi phối, sân hận tiềm ẩn, ám ảnh bởi sân hận, xâm chiếm bởi sân hận, không biết được con đường thoát ly khỏi sân hận, trong trường hợp này thì Ông không thể tuệ tri với chánh trí về đường đi nhân quả của những thiện hạnh mình làm, hay người khác làm, hay của cả hai. Lúc ấy dù những gì Ông đã học, cố gắng học trong một thời gian dài cũng không nhớ được.

Lại nữa, nếu tâm Ông bị hôn trầm thụy miên ám ảnh, bị dật dờ buồn ngủ xâm chiếm, tâm luôn ám độn truy tìm những cơn ngủ nghỉ, tâm luôn uể oải, mệt nhừ bởi hôn trầm thụy miên, người này không biết được con đường đưa đến diệt tận hôn trầm thụy miên. Do đó, mà không thể biết được những thiện hạnh mình làm, hay của người khác làm, hoặc của cả hai. Khi ấy, dù Ông cố gắng học, Ông học rất nhiều nhưng lại không nhớ gì cả.

Lại nữa, nếu tâm Ông bị bất an và hối hận ám ảnh, bị chi phối bởi những điều bất an và hối hận, bị bất an và hối hận xâm chiếm, tâm luôn dao động, lo lắng... không biết được con đường xuất ly khỏi bất an và hối hận khởi lên trong tâm. Khi ấy, Ông không thể minh đạt với chánh trí về đường đi của nhân quả, nghiệp lực, không thể thấy và biết với trí tuệ về những thiện hạnh mình làm, người khác làm hay của cả hai. Do đó dù Ông cố gắng học, Ông học rất nhiều nhưng lại không nhớ gì cả.

Lại nữa, nếu tâm Ông bị nghi ngờ ám ảnh, bị nghi ngờ chi phối, bị nghi ngờ xâm chiếm và ngự trị, không biết được con đường thoát ly bởi nghi ngờ và ám ảnh này, thì ông không thể hoan hỷ và biết được nhân quả của những thiện hạnh mình làm, hay của người khác làm, hoặc của cả hai. Lúc ấy dù Ông cố gắng học, Ông học rất nhiều nhưng lại không nhớ được gì cả.

Trên đây là những lý do tại sao Ông cố gắng học, Ông học rất nhiều nhưng lại không nhớ được gì cả.

Nếu tâm Ông không bị chi phối và ám ảnh bởi tham dục, sân hận, dật dờ buồn ngủ, bất an hối hận và nghi ngờ thì những gì Ông đã học, học rất lâu rồi, lại tự nhiên nhớ ra.

Đấy là những điều đã được Đức Thế Tôn chỉ dạy trong Kinh Tương Ưng, phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi, nay tôi đã vì Ông mà ước lược tỏ bày. Nguyện cầu Ông luôn an lạc, cát tường và thành tựu những sở nguyện của  mình! 

Nghe Sư Phụ chia sẻ xong, vị cư sĩ ấy vô cùng hoan hỷ, nguyện sẽ nổ lực tinh tấn tu học để đoạn trừ những kiết sử đã được Sư Phụ nói ở trên, rồi đảnh lễ sư phụ và xin phép ra về!







Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2022

XÂY DỰNG HÔN NHÂN HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH


Một hôm có một cặp tình nhân đến thăm chùa, có nhân duyên được gặp Sư Phụ Long Viễn, sau khi được chú thị giả mời ngồi uống nước, cô bạn gái của anh ấy chấp tay thưa hỏi Sư Phụ:

- Kính bạch Thầy, chúng con sắp cưới nhau, con không biết trong nhà Phật có dạy về hôn nhân không ạ?

Sư Phụ bê ly nước lên uống một ngụm, sau đó đặt ly nước xuống bàn, Ngài đưa ánh mắt từ ái nhìn đôi tình nhân nam nữ, rồi Sư Phụ chậm rãi nói:

- Có, khi Đức Phật còn tại thế, Đức Thế Tôn có dạy về bốn kiểu hôn nhân, mà một gia chủ cần phải biết để xây dựng hạnh phúc gia đình!

Cô gái lại thưa hỏi tiếp:

- Xin Thầy cho chúng con biết bốn kiểu hôn nhân mà Đức Phật đã dạy được không ạ?

- Được, anh chị hãy chánh tâm tác ý lắng nghe! 

Sau đó Sư Phụ dạy:

Một thời Thế Tôn đang du hành trong nhân gian, có lần Ngài đi trên con đường giữa Madhura và Veranja, Ngài rời khỏi con đường ấy, rồi đến ngồi dưới gốc cây mà các gia chủ ở đấy đã soạn sẵn, bấy giờ Đức Thế Tôn dạy các gia chủ về bốn kiểu hôn nhân như sau:

1. Một kẻ đê tiện sống chung với một kẻ đê tiện.

2.  Một kẻ đê tiện nam sống chúng với một Thiên nữ. 

3. Một Thiên nam sống chúng với một kẻ đê tiện nữ. 

4. Một Thiên nam sống chung với một Thiên nữ.

Cô gái chấp tay thưa:

- Xin Thầy có thể nói rõ hơn được không?

Sư phụ đáp: Anh chị hãy lắng nghe!

- Thế nào là: "Một kẻ đê tiện sống chung với một kẻ đê tiện?" Ở đây, người chồng sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo, đắm say rượu chè, ác giới, tánh ác, không có đạo đức, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối, nhiếc mắng chửi rủa các bậc chánh tu. Còn người vợ của anh ta cũng y hệt như thế. Đó là: "Một kẻ đê tiện sống chung với một kẻ đê tiện." 

- Thế nào là: "Một kẻ đê tiện nam sống chúng với một Thiên nữ?" Ở đây, người chồng  người chồng sát sanh, trộm cắp, đam mê tà dâm, nói láo, đắm say rượu chè, ác giới, tánh ác, vô đạo đức, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối, nhiếc mắng chửi rủa các bậc chánh tu, không ti nhân quả tội phước. Nhưng người vợ của anh ta thì từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu chè, có giới, thiện tánh, sống ở gia đình mà tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chửi rủa các bậc chánh tu, tin sâu nhân quả tội phước, sống có đạo đức. Đó là: "Một kẻ đê tiện nam sống chúng với một Thiên nữ"

- Thế nào là: "Một Thiên nam sống chúng với một kẻ đê tiện nữ?" Ở đây, người chồng từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm sống chung thủy với vợ, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu chè, từ bỏ ăn chơi trác tán, có giới, thiện tánh, sống ở gia đình mà tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chửi rủa các bậc chánh tu, tin sâu nhân quả tội phước, sống có đạo đức, mọi người ai cũng kính yêu. Còn người vợ thì ngược lại, sát sanh, trộm cắp, đam mê tà dâm, nói láo, đắm say rượu chè, ăn chơi trác tán, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối, nhiếc mắng chửi rủa các bậc chánh tu, không ti nhân quả tội phước, sống vô đạo đức. Đó là: "Một Thiên nam sống chúng với một kẻ đê tiện nữ." 

Thế nào là: "Một Thiên nam sống chung với một Thiên nữ? Ở đây, người chồng và người vợ đều từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm sống chung thủy với nhau, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu chè, từ bỏ ăn chơi thác loạn, có giới, thiện tánh, sống yêu thương san sẻ cho nhau, sống ở gia đình mà tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chửi rủa các bậc chánh tu, tin sâu nhân quả tội phước, sống có đạo đức, mọi người ai cũng kính yêu. Đó là "Một Thiên nam sống chung với một Thiên nữ."

- Có bốn kiểu hôn nhân như thế! Anh chị thích kiểu hôn nhân nào?

Cả hai đều đáp: 

- Dạ, chúng con đều thích kiểu hôn nhân thứ tư! 

Sư Phụ dạy: 

- Nếu vợ chồng tin sâu nhân quả tội phước, thọ nhận Tam quy và Ngũ giới, hiểu rõ lý vô thường... thì cuộc sống vợ chồng sẽ rất an lành, hạnh phúc, đời sống hôn nhân sẽ có nhiều phúc lạc. Còn ngược lại, thì cuộc sống gia đình sẽ dễ tan vỡ. Khi yêu nhau thì ai cũng sống trong mộng, cưới nhau về rồi thì tỉnh mộng và vỡ mộng. Vì sao? Vì những thói hư tật xấu của người kia dần hé lộ, những gì thầm kín sẽ được phơi bày... lại khi có con rồi, thì áp lực cuộc sống đè nặng lên vai, trăm thứ phải lo lắng: Cơm, áo, gạo, tiền... dẫn đến xúc não, hôn nhân dễ đổ vỡ...

Người thanh niên, chấp tay thưa hỏi: 

- Kính bạch Thầy, Đức Phật có dạy thêm và phương cách khiến cho đời sống hôn nhân gia đình được đảm bảo hạnh phúc không ạ?

Sư Phụ đáp: Có! Anh chị hãy tác ý lắng nghe! Muốn đảm bảo đời sống gia đình hạnh phúc thì: Có năm cách người chồng đối xử với vợ: Kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ; sắm đồ nữ trang với vợ.

Lúc ấy cô gái rất hớn hở, nhanh miệng thưa:

- Dạ, con thích những lời dạy này của Đức Phật! Sau đó nhìn người tình, nhoẻn miệng cười và nói yêu: 

- Anh phải làm theo lời Đức Phật dạy nghe chưa? 

Anh thanh niên nhẹ cười, sau đó nhìn Sư Phụ và thưa: 

- Dạ, còn vợ thì đối với chồng thế nào ạ?

Sư Phụ từ tốn nói: 

- Có năm cách người vợ yêu thương chồng mình: Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình; khéo tiếp đón bà con; trung thành với chồng; khéo gìn giữ tài sản của chồng; khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc.

Anh ta liền đưa mắt nhìn cô gái, vừa nói vừa cười nhẹ, với vẻ tâm đắc: 

- Đó! Em nghe chưa! 

Sau đó Sư Phụ dạy tiếp: 

- Lại nữa, chị phải nghe cho kỹ, trong Kinh Tăng Chi, Đức Phật có dạy: Nữ nhân thành tựu bốn pháp thì sẽ chiến thắng ở đời này, đời này rơi vào tầm tay của nữ nhân. Bốn pháp đó là gì? Nữ nhân có khả năng khéo làm các công việc, biết thâu nhiếp các người phục vụ, sở hành vừa ý chồng, biết giữ gìn tài sản cất chứa. 

Thế nào là nữ nhân có khả năng khéo làm các công việc? Ở đây, nữ nhân phàm có những công việc trong nhà, thuộc về len hay vải bông, ở đây, nữ nhân ấy thông thạo, không biếng nhác, tự tìm phương pháp làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ để sắp đặt người làm. 

Thế nào là nữ nhân biết thâu nhiếp các người phục vụ? Ở đây, trong nhà người chồng, phàm có nô tỳ nào, hay người đưa tin, hay người công thợ, nữ nhân biết công việc của họ với công việc đã làm, biết sự thiếu xót của họ với công việc không làm; biết sức mạnh hay sức không mạnh của những người đau bệnh; biết chia các đồ ăn, loại cứng và loại mềm, mỗi người tùy theo từng phần của mình.

Thế nào là nữ nhân sở hành vừa ý chồng? Tức là, những gì người chồng không vừa ý, dầu cho có vì sanh mạng, nàng cũng không làm. 

Thế nào là nữ nhân biết giữ gìn tài sản thâu hoạch được? Phàm có tiền bạc, lúa gạo, bạc và vàng người chồng đem về, nữ nhân ấy bảo vệ, phòng hộ chúng, giữ gìn để khỏi bọn ăn trộm, ăn cắp, kẻ uống rượu, kẻ phá hoại...

Nếu nữ nhân thành tựu bốn pháp trên sẽ là người chiến thắng ở đời. Ðời này rơi vào trong tầm tay của mình. 

Lại nữa nếu lại thành tựu bốn pháp này, sẽ là người thành công, là người chiến thắng ở đời, tất cả cái gì trong đời đều sẽ rơi vào sự kiểm soát và tầm tay của mình. Thế nào là bốn?... Tức là:"Nữ nhân đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ."

Thế nào là nữ nhân đầy đủ lòng tin? Nghĩa là, nữ nhân có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. “ Thành tựu tịnh tín vô biên với Như Lai.

Thế nào là nữ nhân đầy đủ giới đức? Tức là nữ nhân ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu chè. 

Thế nào là nữ nhân đầy đủ bố thí? Nữ nhân sống ở gia đình với tâm tư từ bỏ cấu uế của xan tham, bố thí rộng rãi, với bàn tay cởi mở, vui thích từ bỏ, sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu, vui thích chia xẻ các vật dụng của mình, bố thí với tâm hỷ xả.

Thế nào là nữ nhân đầy đủ trí tuệ? Nữ nhân có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với Thánh thể nhập đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.

Thành tựu bốn pháp này, thì nữ nhân thành tựu sự chiến thắng ở đời sau. Ðời sau rơi vào trong tầm tay của mình. Như Đức Phật có kệ nói:

"Khéo làm các công việc

Thâu nhiếp người phục vụ

Sở hành vừa ý chồng

Giữ gìn của cất chứa

Ðầy đủ tín và giới

Bố thí, không xan tham

Rửa sạch đường thượng đạo

Ðến đời sau an lành

Như vậy là tám pháp

Nữ nhân có đầy đủ

Ðược gọi bậc có giới

Trú pháp, nói chân thật

Ðủ mười sáu hành tướng

Thành tựu tám chi phần

Nữ cư sĩ như vậy

Với giới hạnh đầy đủ

Sanh làm vị Thiên nữ

Với thân thật khả ái."

Lúc ấy, anh thanh niên quay nhìn người yêu của mình với ánh mắt trìu mến vô cùng, anh lên tiếng:" Đức Phật quả thật trí tuệ vô song! Em phải nhớ kỹ lời Thầy dạy nghen! Để anh mãi mãi ở trong tầm tay của em, và anh cũng tự nguyện mãi mãi ở trong tầm tay của em. Hy vọng em sẽ cho anh một ngôi nhà thật hạnh phúc, chúng ta cùng xây dựng nên cuộc sống tràng đầy phúc lạc."

Đoạn nói xong, hai người đều chắp tay quay nhìn Sư Phụ, anh thanh niên kính cẩn thưa:" Con thành tâm cảm ơn Thầy rất rất nhiều, đã chỉ dạy chúng con xây dựng nên hạnh phúc vĩnh cửu của mình, chúng con cũng cảm tạ ân đức và lòng từ bi vô hạn lượng của Đức Phật đã chỉ dạy rất rõ ràng, để chúng con biết được đạo lộ mà chúng con phải đi, không những xây dựng hạnh phúc đời này, mà còn cho đời sau nữa ạ!"

Sư Phụ từ tốn nhìn đôi tình nhân trẻ, với tình thương bao phủ như một người cha, trìu mến nhìn con mình. Sau đó Sư Phụ chậm rãi nói tiếp:

- Nếu vợ chồng muốn được tình yêu trọn vẹn đời này và tái hợp trong đời sau thì cả hai phải có cùng một đức tin, cùng giữ gìn giới hạnh, cùng tu bố thí, cùng tu thiền định, cùng dùng trí tuệ để ứng biến trong đời sống gia đình, xem người kia như chính một nửa thân mình thật sự, cùng hi sinh cho nhau, cùng biết lắng nghe, cùng biết chia sẻ, cùng biết tùy thuận và bằng lòng với những cái mình hiện có. Nếu anh chị làm được như thế thì đời này hạnh phúc, đời sau tái hợp duyên lành ở cõi trời. Đúng như trong Kinh Tăng Chi, Đức Phật có dạy:

"Cả hai, tín, bố thí,

Sống chế ngự, chánh mạng,

Cả hai vợ chồng ấy,

Nói lời thân ái nhau,

Ðời sống nhiều hạnh phúc,

Chờ đợi hai người ấy.

Kẻ thù không thích ý,

Cả hai giới hạnh lành,

Ở đây sống theo Pháp,

Giữ cấm giới đồng đẳng,

Cả hai giới hạnh lành,

Sống hoan hỷ Thiên giới,

Hân hoan được thỏa mãn,

Ðúng với điều sở cầu."


Sư Phụ nói xong bài Kệ trong Kinh, cặp tình nhân ấy vô cùng hớn hở, tâm đầy hỷ lạc, cùng nhau đảnh lễ Sư Phụ, cùng hứa sẽ đến chùa thọ Tam quy Ngũ giới... rồi từ biệt ra về