Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại Giác Tánh Luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại Giác Tánh Luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2018

NHẬP THẬT TƯỚNG BÁT NHÃ
        ---------------ಠ------------                  
Hỏi: Tất cả ngôn hành đều có thể tận, vạn tượng sum la đều có thể diệt, sao lại nói thật tướng của các pháp không có tỳ vết, không có lỗ hỏng, chẳng thể phá, chẳng thể diệt?
Đáp: Tướng vọng tưởng là trần, thức tình là cấu, hai thứ ấy nếu một lúc xa lìa thì trí tuệ giác tánh mới chân nguyên hiển lộ rõ ràng. Vì các pháp không có tỳ vết, không có lỗ hỏng, chẳng thể phá, chẳng thể diệt nên trong Phật Pháp siêu việt ngữ ngôn, tâm hành cũng dứt, bất sanh bất diệt, bản thể thường Như, vắng lặng không tịch như tướng Niết bàn.
Bởi đó, nên Đức Long Thọ Bồ Tát mới nói:
“Vì nếu các pháp tướng là thật có, thời lúc sau chẳng nên không có, nếu các pháp trước có mà nay không, tức là đoạn diệt. Cũng chẳng phải thường, vì sao? Vì nếu thường tức không có tội phước, không có sát thương, cũng không có thí cho mạng sống, cũng không có lợi ích tu hành, cũng không triền phược không giải thoát, thế gian là Niết bàn, nên chẳng phải thường. Nếu các pháp là vô thường thời là đoạn diệt, cũng không có tội phước, cũng không thêm bớt, các nghiệp nhân duyên quả báo đều mất nên chẳng phải vô thường.”
Tam Thừa đều quán thật tướng của vạn pháp, bản thể thường “Không” mà đắc đạo. Nên quán “Không” gọi là chánh quán, quán khác đi gọi là tà quán. Khi mê có thế gian để ra khỏi, ngộ rồi thì thế gian là Niết bàn. Khi mê có bờ bên này, ngộ rồi thì bờ bên đây cũng không có. Khi mê thì có tâm có pháp, ngộ rồi thì tâm pháp đều không. Khi mê thì có Phật có chúng sanh, ngộ rồi thì chúng sanh là Phật. Khi mê thì có phàm phu và Thánh nhân, ngộ rồi thì vốn không sai khác. Khi mê thì vọng dứt phiền não vọng chứng Niết bàn, ngộ rồi thì phiền não tức là Bồ đề vậy.
Khi đó mới thật rõ ngộ lý chân truyền của Đức Phật Ca Diếp xưa:
“Nhất thiết chúng sanh tánh thanh tịnh
Tòng bổn vô sanh, vô khả diệt.
Tức thử thân, tâm thị huyễn sanh
Huyễn hóa chi trung vô tội, phúc.”
                         ****
“Tánh chúng sanh thảy đều thanh tịnh
Do không sanh, không diệt mà ra.
Thân, tâm là huyễn thôi mà
Huyễn thì tội, phước thật là đều không”.
Được vậy mới gọi là “Về Nguồn”. Cũng gọi là Như Lai dạo biển tịch diệt chuyển đại pháp luân nhập tất cả ngữ ngôn văn tự mà không có chỗ trụ. Cũng gọi là Phật độ hết chúng sanh vì Phật chẳng tự thành đều do chúng sanh độ cả (Chư Phật lấy vô minh làm cha, tham ái làm mẹ; vô minh và tham ái là biệt hiệu của chúng sanh). Khi Tâm, Phật và Chúng sanh không còn sai biệt thì mới có thể nhập vào Đại Đạo. Như Kinh Viên Giác nói: “Này Thiện nam tử, phải biết rằng các pháp đều bình đẳng và bất hoại diệt. Thân, Tâm và Ngã Pháp, sinh tử và Niết bàn đều như không hoa. Ở trong hành giả không có tạo tác và đình chỉ. Ở quả tu không có thủ xả và đắc thất. Rốt ráo không có Năng, Sở, Khứ lai, Sinh diệt. Có như thế mới nhập được vào Phật đạo.”
Ông Bàng Uẩn lúc lâm chung cũng có hai câu kệ:
“Không hoa lạc ảnh
Dương diệm phiên ba”.
 Hoa đốm trên không hiện ra hình bóng, Dương diệm (Ánh sáng mặt trời chiếu xuống mặt đất, ở xa nhìn thấy có nước nhưng đến gần thì chẳng có gì) nổi lên làn sóng. Ngài Vĩnh Minh tán thán rằng: Lời này không lọt vào kiến chấp “Có” và “Không”, khéo được ý chỉ vô sanh, kẻ học đạo nên quán sâu vào đó.” Khéo quán sâu vào đó mới gọi là kẻ nhập Phật Đạo có trí.                   
 (Trích Đại Giác Tánh Luận, Lương Sơn Long Viễn biên soạn)



Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018

__ക__ NGỘ BỔN TÂM__ക__
-----------ങ-----------
Tự tâm nếu một phen tỏ ngộ liền đến quả vị Phật. Nếu lạc mất tự tâm tạo nhân mê hoặc tức phải chịu cái quả huyễn hóa. Một niệm phóng đi là tác thành nghiệp báo, tác thành nhân quả triển chuyển sanh diệt trong ba cõi sáu đường(*), thống khổ vô cùng, ai bi cực độ. Nên Ngài Lai Quả đã thống thiết chí thành trăm lạy khẩn xin chư Đại Đức hãy cứu giúp Tâm này:
“Tâm tại sao nói cứu? Kỳ thật là do sự ứng dụng hằng ngày của chúng ta chỉ biết có thân, không biết có Tâm. Xưa nay chỉ biết nói Tâm tức là thân, thân tức là Tâm, mê lầm cho thân Tâm là một thể, mà chẳng biết có vọng tâm, có chơn tâm cho nên bất cứ lúc nào, nơi nào cũng hết lòng tận sức xúi giục cái tâm ngu si này, lo cho cái thân này được thể diện, được cao sang, được vừa lòng. Cứ cho cái thân đây cũng là ta (Tâm), đó cũng là ta, mà chẳng biết đã cho cái Tâm Phật của ta ẩn giấu trong tạng phủ của cái thân này.”
         Tâm có chân tâm và vọng tâm. Chân tâm ứng hợp với bản thể. Vọng tâm trái chướng với thể chân như. Nguyên vì, vọng trần dấy khởi, sóng ái lao xao, nên Tứ trí không sanh(**), Thập thân bất hiện(***), thể vọng bất phân, mê lầm chân ngã, thường bị vật vô tình nhiếp mất tự do, nào hay nào biết trong cái đẫy da hôi thối này có cái bất sanh bất diệt...

(Trích Đại Giác Tánh Luận, Lương Sơn Long Viễn biên soạn) 





Ghi Chú: 
(*) Ba cõi sáu đường: Còn gọi là Ba giới, sáu đường luân hồi (tam giới, lục đạo luân hồi)
Ba giới là Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới. Sáu đường luân hồi là sáu loài chúng sinh thọ sanh trong luân hồi: 
1) Chư thiên, 
2) Loài người, 
3) Loài a-tu-la, 
4) Loài ngạ quỷ, 
5) Loài thú vật, 
6) Loài đọa địa ngục.
 Sáu loài chúng sanh đều nằm trong ba giới,Cụ thể như sau:
1. Dục giới  
(World of Sense-Desires, Kama Loka)
11. Tha hóa tự tại thiên (Devas Wielding Power over Others' Creations; Paranimmita-vasavattī devā) 
10. Hóa lạc thiên (Devas Delighting in Creation; Nimmānaratī devā)

09. Đâu-suất thiên (Contented devas; Tusitā devā) 
08. Dạ-ma thiên (Yama devas; Yāmā devā) 
07. Đao-lợi thiên (The Thirty-Three Gods; Tāvatiṁsa devā) 
06. Tứ thiên vương thiên (Devas of the Four Great Kings; Catumahārājikā devā) 
05.Loài người (Human beings; Manussā) 
04. Loài a-tu-la (Titans; Asurā) 
03. Loài ngạ quỷ (Hungry ghosts; Petā) 
02. Loài thú vật (Animals; Tiracchānā) 
01. Loài đọa địa ngục (Hells; Nirayā) 
 2. Sắc giới  
(World of Form, Rūpa Loka)
A1. Sơ thiền
14. Đại phạm thiên (Great Brahmas; Mahā Brahmā) 
13. Phạm phụ thiên (Ministers of Brahmas; Brahma-Purohitā devā) 
12. Phạm chúng thiên (Retinue of Brahma; Brahma-Parisajjā devā)
A2. Nhị thiền
17. Quang minh thiên (Devas of Streaming Radiance; Ābhassarā devā) 
16. Vô lượng quang thiên (Devas of Unbounded Radiance; Appamānabhā devā) 
15. Thiểu quang thiên (Devas of Limited Radiance; Parittabhā devā)
A3. Tam thiền
20. Biến tịnh thiên (Devas of Refulgent Glory; Subhakinnā devā) 
19. Vô lượng tịnh thiên (Devas of Unbounded Glory; Appamānasubhā devā) 
18. Thiểu tịnh thiên (Devas of Limited Glory; Parittasubhā devā)
 A4. Tứ thiền
27. Vô song thiên (Peerless devas; Akanitthā devā) 
26. Thiện kiến thiên (Clear-sighted devas; Sudassī devā) 
25. Thiện hiện thiên (Beautiful or Clearly Visible devas); Sudassā devā) 
24. Thanh tịnh thiên (Untroubled devas; Atappā devā) 
23. Vô đọa thiên (Devas not Falling Away; Avihā devā) 
22. Vô tưởng thiên (Unconscious beings; Asaññā sattā) 
21. Quảng quả thiên (Very Fruitful devas; Vehapphalā devā)

3. Vô sắc giới  
(Formless World, Arūpa Loka)
31. Phi tưởng, phi phi tưởng thiên (Devas of Sphere of Neither-perception nor non-perception;Nevasaññā-nasaññā-yatanūpagā devā) 
30. Vô sở hữu thiên (Devas of Sphere of No-thingness; Ākiñcañña-yatanūpagā devā) 
29. Thức vô biên thiên (Devas of Sphere of Infinite Concsiousness; Viññānañca-yatanūpagā devā) 
28. Không vô biên thiên (Devas of Sphere of Infinite Space; Ākāsānañca-yatanūpā devā)
(**) Tứ Trí: 
1-Thành Sở Tác Trí (tức Ngũ Thức: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân chuyển thành Trí).
2- Diệu Quán Sát Trí (tức là thức thứ sáu: Ý Thức chuyển thành Trí).
3-Bình Đẳng Tánh Trí (tức là thức thứ bảy: Mạt Na Thức chuyển thành Trí).
4-Đại Viên Cảnh Trí (tức là thức thứ tám: A-Lại-Da Thức chuyển thành Trí).
(***) Thập Thân:

Theo Kinh diễn thuyết Thập Thân như sau:
1. Bồ đề thân: 
Trí nhập tam thế, tất giai bình đẳng (ý nghiệp). Kỳ thân sung mãn nhất thiết thế gian (thân nghiệp). Kỳ âm phổ thuận thập phương quốc độ (ngữ nghiệp). Ví như hư không cụ hàm chúng tượng, ư chư cảnh giới vô sở phân biệt. Hựu như hư không phổ biến nhất thiết, ư chư quốc độ bình đẳng tuỳ nhập.
Dịch ý là: Trí huệ của Phật thấu hiểu hết mọi chuyện trong ba đời một cách toàn diện và bình đẳng (đó là ý nghiệp). Thân của ngài hiện ra khắp mọi nơi trong thế gian (đó là thân nghiệp). Tiếng nói của ngài vào hết khắp mọi quốc độ trong mười phương (đó là khẩu nghiệp). Bồ đề thân thì cũng như hư không chứa đựng vạn tượng nhưng không hề phân biệt những cảnh tượng ấy. Bồ đề thân lại cũng giống như hư không phổ biến mọi nơi, nơi nào có quốc độ thì nơi đó nó nhập vào.  
2. Oai thế thân: 
Thân hằng biến tọa nhất thiết đạo tràng, bồ tát chúng trung oai quang hách dịch, như nhật luân xuất chiếu minh thế giới.
Dịch ý là: Oai thế thân của Phật thường biến ra đến khắp tất cả đạo tràng. Trong tất cả đại chúng bồ tát, thân của Phật phóng ra hào quang sáng lạn, giống như mặt trời xuất hiện rọi sáng thế giới.
3.Phước đức thân:  
Tam thế sở hành chúng phước đại hải tất dĩ viên mãn.
Dịch ý là: Biển phước rộng lớn mà Phật đã làm trong ba đời thì hoàn toàn viên mãn.
4.Tuỳ ý thọ sinh thân: 
Nhi hằng thị sinh chư Phật quốc độ.
Dịch ý là: Tuy đã viên mãn sự tu hành, nhưng đức Phật vẫn thường luôn thị hiện sinh vào các cõi nước của chư Phật.
5. Tướng hảo trang nghiêm thân: 
Vô biên sắc tướng viên mãn quang minh  biến châu pháp giới, đẳng vô sai biệt.
Dịch ý là: Thân của Phật có nhiều vô số hình sắc tướng trạng, vô số quang minh viên mãn. Những thân ấy biến ra khắp pháp giới. Những thân này, sắc tướng đều trang nghiêm đẹp như nhau, không hề có sai khác.
6. Nguyện thân: 
Diễn nhất thiết pháp như bố đại vân
Dịch ý là: Ðức Phật hiện thân diễn thuyết hết thảy mọi pháp môn. (Sự diễn thuyết của ngài thâm sâu, thấu triệt và bao trùm hết mọi khía cạnh của chân lý, cũng giống như) mây lớn giăng kín bầu trời.
7. Hóa thân: 
Nhất nhất mao đoan tất năng dung thọ nhất thiết thế giới, nhi vô chướng ngại. Các hiện vô lượng thần thông chi lực, giáo hóa điều phục nhất thiết chúng sinh.
Dịch ý là: Mỗi sợi lông của Phật có thể chứa đựng toàn bộ tất cả thế giới mà không hề có chướng ngại gì. Trong mỗi thế giới ấy, Phật lại hiện ra vô lượng sức mạnh thần thông để giáo dục và cảm hóa tất cả chúng sinh
8. Pháp thân: 
Thân biến thập phương nhi vô lai vãng.

Dịch ý là: Thân Phật tuy hiện ra khắp mọi nơi nhưng thân ngài không hề di động , không tới cũng không đi.
9. Trí thân: 
Trí nhập chư tướng liễu pháp không tịch.
Dịch ý là: Trí huệ của Phật thấu suốt mọi hiện tượng, ngài biết rõ rằng mọi thứ đều là không, đều vắng lặng.
10.Lực trì thân:   
Tam thế chư Phật sở hữu thần biến, ư quang minh trung mỹ bất hàm đổ. Nhất thiết Phật độ bất tư nghì kiếp sở hữu trang nghiêm, tất linh hiển hiện.
Dịch ý là: Quang minh của Phật có thể khiến chúng ta thấy hết mọi hoạt động thần biến của tất cả chư Phật. Ngài cũng có thể làm hiển hiện cho ta thấy vô số vô lượng những thứ trang nghiêm trong những kiếp số nhiều không thể tưởng tượng.