Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

  Diệu Nghĩa Đà-la-ni

Kho Chân Ngôn Bí Mật Thông Dụng

(Phần III)


XIII. Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn


OMÏ  MA NÏI  PADME  HÙMÏ


 Công đức lực dụng của Chân Ngôn này không thể nói hết dù trãi qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp. Vì sao? Vì Chân Ngôn này với thân Bồ Tát Quán Thế Âm không khác, đây là cách hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm qua hình tướng âm thanh, Chân Ngôn này đồng nghĩa với công đức, phước báo, thần lực, trí tuệ, biện tài, phương tiện độ sanh, diệu hạnh bí mật... của Quán Thế Âm Bồ Tát. Cho nên hành giả tu trì Chân Ngôn này sẽ chứng ngộ được thân Pháp Tánh của Bồ Tát Quán Thế Âm, sẽ nhận được sức gia trì bất khả tư nghì của Ngài mà thể nhập Tam Mật hiện chứng Đại Tâm của Ngài. Đây cũng là Trí Phổ Môn Phương Tiện của Như Lai, tu tập Thiền Định Ba La Mật (Dhyàna pàramità) để chứng ngộ Tâm Bồ Đề tối thượng vậy. 


XIV. Chuẩn Đề Chân Ngôn


NAMO SAPTÀNAMÏ SAMYAKSAMÏBUDDHA  KOTÏINAMÏ. TADYATHÀ   OMÏ    CALE  CULE  CUDHE  SVÀHÀ .

Chân Ngôn này về công đức diệu dụng không thể nói hết bằng lời. Tại sao như thế? Vì Chân Ngôn  này tổng nhiếp tất cả năm Bộ chú, đồng với Tối Thắng Tôn, giúp chúng sanh vượt qua tất cả ách nạn, thành tựu tất cả nguyện lực, xuất sanh thập phương tam thế Chư Phật, cho nên Bồ Tát Chuẩn Đề được gọi là Phật Mẫu, cũng gọi là Tối Thắng Kim Cương .
Trong Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề Đà-la-ni Pháp có ghi Ấn Chú này có công năng diệt tất cả tội nặng như: Tội ngũ nghịch và tội thập ác, thành tựu tất cả Bạch Pháp. Trì giới đầy đủ thanh khiết mau chứng Bồ Đề. Nếu người tại gia không thể đoạn dứt vợ con rượu thịt mà chỉ y Pháp này (Pháp Phật) trì tụng đều được thành tựu  ... 
Đức Phật dạy: Đà-la-ni này có thế lực lớn, chí tâm tụng trì quyết phải tự chứng. Có công năng khiến cây khô phát sinh hoa trái, huống gì những quả báo ở thế gian. Nếu thường trì tụng thì nước, lửa, đao binh, oan gia, độc dược đều không thể làm hại. 
Nếu người bị Quỷ Thần làm bệnh chết; kết Ấn tụng Chú này 7 biến, lấy Ấn ấn nơi ngực đều khiến sống trở lại. Gia đình nhà cửa ở không yên, bị Quỷ Thần gây họa; trì  Chú chú vào 4 hòn đất đem trấn ở bốn phía thì liền đi. Nếu người trong lục thân không hòa, không nghĩ đến tình thương nhau, nên y Pháp tụng Chú hướng về lục thân thì được hòa hợp, nghe tên thấy thân đều được hoan hỷ; phàm cầu việc gì cũng được vừa lòng toại tâm. Huống chi người trai giới đầy đủ, nhất tâm thanh tịnh y Pháp tụng trì, thì nhất định chuyển thân này tức chứng Bồ Đề, có được đại công đức lực.
Ngài Long Thọ Bồ Tát (Nàgàrjuna) có bài kệ khen ngợi công đức của Chuẩn Đề Bồ Tát rằng: 
Chuẩn Đề công đức tụ 
Tịch tịch tâm thường tụng 
Nhất thiết chư đại nạn 
Vô năng xâm thị nhân 
Thiên thượng cập nhân gian 
Thọ phước như Phật đẳng 
Ngộ thử Như Ý châu 
Địch hoạch vô đẳng đẳng. 
  
Dịch nghĩa: 

Nhóm công đức Chuẩn Đề 
Tâm vắng lặng thường tụng 
Tất cả các nạn lớn 
Không thể phạm đến người 
Trên Trời với nhân gian 
Thọ phước ngang bằng Phật 
Gặp ngọc Như Ý này 
Được sự không gì hơn.

XV. Như Lai Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Chân Ngôn

NAMO BHAGAVATE APARIMITA AJURJNÕÀNA, SUVINE ‘SCITA, TEJA, RÀJAYA, TATHÀGATÀYA, ARHATE, SAMYAKSAMBUDDHÀYATADYATHÀ: OM-SAMSKÀRA PARI’SUDDHA DHARMATE, GAGANA SAMUDGATE SVABHÀVA VI’SUDDHE, MAHÀ NAYA PARIVERE SVÀHA

Hán dịch: 
Nam mô bà nga phạ đế, a bá lị nhi đá nghê dã nẵng, vĩ nĩnh thất chỉ đát, đế tô, ra nhạ dã, đát tha nga đa dã, ra hạ đế, tam dược khất tam bột đà dã, Đát nễ dã tha: Án, tát phạ tăng tắc ca ra, bà lị vũ đà, đạt lặc ma đế, nga nga nẵng, mẫu nỗ bách đế, sa phạ bà phạ, vĩ vũ đệ, ma hạ nẵng dã, bà lị phạ lê, sa phạ ha.

 Đức Phật dạy: Đây là 108 danh hiệu Đà-la-ni Như Lai, Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai 108 Danh Hiệu này, nếu có người tự viết chép hoặc bảo người khác viết chép rồi đặt ở lầu cao hoặc ở điện đường, nơi chốn sạch sẽ… như Pháp bày biện các món cúng dường, thì người thọ mệnh ngắn ngủi được tăng tuổi sống lâu trăm năm, sau khi mệnh chung được vãng sanh về Thế Giới Vô Lượng Công Đức Tạng của Phật Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương.
Đà-la-ni này vô lượng vô biên hằng sa Chư Phật tuyên thuyết, nếu có người tự viết chép hoặc bảo người chép thì người này từ đây trở về sau không bị đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, không đọa vào cõi Diêm La Vương, Minh Quan Nghiệp Đạo; nơi các đường ác thọ các khổ… đều vĩnh viễn xa lìa. Như vậy đều do sức công đức viết chép Kinh Đa-la-ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương. Từ đây về sau, đời đời kiếp kiếp, sanh ở chốn nào cũng đều được Túc Mệnh Trí. Hiện đời các tội nghiệp nơi năm Địa Ngục Vô Gián đều được tiêu trừ, không bị đọa làm Ma Vương và các quyến thuộc của Ma, không đọa vào các loài Dạ Xoa La Sát… không bị chết oan uổng, vĩnh viễn không thọ các quả báo ác. Đông Phương Càn Thát Bà Chủ Trì Quốc Thiên Vương, Nam Phương Cưu Bàn Trà Chủ Tăng Trưởng Thiên Vương, Tây Phương Long Chủ Quảng Mục Thiên Vương, Bắc Phương Đại Dạ Xoa Chủ Đa Văn Thiên Vương, ẩn dấu thân hình thường theo ủng hộ.
Lại nếu có người viết chép Kinh Đà-la-ni Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương, tức nơi đó thành tựu Tháp báu Chân Thân Xá Lợi của chư Phật, cần phải tôn trọng lễ lạy. Nếu có chúng sanh nghe Đà-la-ni này, thì chúng sanh đó vĩnh viễn không còn thọ thân chim bay, thú chạy, loài có 4 chân hay nhiều chân, các thân hình kỳ dị, đời sau mau thành tựu Bất Thoái Chuyển Chánh Đẳng Bồ Đề.

XVI. Cát Tường Thiên Nữ Chân Ngôn
(Cát Tường Thiên Nữ 12 Khế 108 Danh Vô Cấu Tán Thán Chân Ngôn)
 OM VILOKÀYA TRAYA MOCAYA SARVA DUHKHE BHYAH  SARVA PÙNYA  SAMBHARA NAMA KUKSI KURU SVÀHÀ OM- GAH GA SARVA ARTHA KUKSI SVÀHÀ 
OM
 SAVIDURI SVÀHÀ SARVAMAMGALA DHÀRÀNI SVÀHÀ
CATURVEDA SARVA NAKSATRA GRAHÀ GANA ADHIMUKTIYE SVÀHÀ 
BRAHMÀYASVÀHÀ
VISNUVISVÀHÀ 
RUDRÀYASVÀHÀ
VI’SVA MUKHEYA_ SVÀHÀ
OM
 ‘SRÌNI ‘SRÌNI SARVA KÀRYA SAMSÀDHANI SINI SINI  NI NI NI NI ALAKSAMI NÀ’SAYA  AVÀKA DEVI ‘SRÌ VAI’SRAMANÀYA SVÀHÀ
SARVA PÙNYA GRSNI SVÀHÀ
‘SRÌDEVATÀ GRSNI SVÀHÀ
SARVALAKSMI PRA’SAMANISVÀHÀ SARVATATHÀGATA VI’SISTAYE SVÀHÀ
SARVADEVATÀ PRAMUKHE ‘SRÌYE SVÀHÀ
AYUHMÀLÀ VARNA KÀRÀYE SVÀHÀ
SARVAPAVITRA MAMGALA HASTAYE SVÀHÀ
‘SÀNTIVASÌNIYE SVÀHÀ
PADMASAMBHÙTA SVÀHÀ
VAHASARVA HRDAYA KALANA VINA’SANIYE SVÀHÀ.

Hán dịch:
Án , vi lô ca gia đa la gia Mô giả gia tát phộc nậu khế tỳ dược Tát phộc bổ ni gia. Tam bà la na ma mục xí câu lỗ sa-phộc hạ .Án, nghĩ nga, tát phộc để lật-tha mục xí, sa-phộc haÁn, sa vĩ đát lị, sa-phộc ha Tát phộc mãng nga la đà lị ni, sa-phộc ha Già đốt-phệ na, tát phộc nhược yết-sa đát-la nghiệt-la nga noa địa mẫu lật-đề đới duệ, sa bà haMột-la hàm ma gia, sa-phộc haVĩ sắt-nỗ vĩ, sa-phộc haLỗ nại-la gia, sa-phộc ha. Vĩ thấp-phộc mục khư gia, sa-phộc haÁn, khất-ly nễ, khất-ly nễ  Tát phộc ca lị-gia. Tăng sa đạt nễ. Tất nễ, tất nễ. Nễ nễ nễ nễ, A lạc khất sái nhĩ mê, na xá gia, A phộc ha nê vĩ.  Thất-lị vi thất la mạt noa gia, Sa-phộc ha. Tát phộc bố-ni gia yết lị sắt ni, sa-phộc haThất lị nê phộc đa, yết lị sắt ni, sa-phộc haTát phộc lạc khất sắt nễBát-la xa mạt ni, sa-phộc haTát phộc đát nễ nghiệt đa vĩ sắt yết tha duệ, sa-phộc haTát phộc nê mạt đa bát-la mục khư thất-lị duệ, sa-phộc haA dục ma la mạt-lị noa ca la duệ, sa-phộc haTát phộc ba vĩ đát la mãng tát la ha tát đa duệ, sa-phộc haTăng chất phộc tứ nễ duệ, sa-phộc haBá ná tam bộ đa, sa-phộc haPhộc ha tát phộc cát lị đà ca khu lật ná vĩ ná thi ni duệ, sa-phộc ha.

Đức Phật dạy: 

"Này Bồ Tát Vô Úy Quán Tự Tại! Chân Ngôn Đại Cát Tường và 108 Danh Hiệu nầy hay trừ tất cả phiền não, hay nghiền nát tất cả tội, hay câu triệu tất cả phước, hay trừ tất cả điều chẳng lành.

Nếu có người thọ trì, đọc tụng và xưng danh hiệu các Như Lai, thì người đó vào buổi sáng sớm ở trước tất cả chư Phật đốt hương, dâng hoa cúng dường. Vì Thiên Nữ Cát Tường thiêu đốt Đàn hương, nên đọc Kinh này ắt chẳng bao lâu người ấy đắc được tất cả điều tốt lành, tất cả sự an vui thích ý, được tất cả chư Thiên ủng hộ và được thành tựu tất cả sự nghiệp" .


Cát Tường Thiên Nữ là vị Bồ Tát như thế nào?
Tiếng Phạn là ‘SRÌ MAHÀDEVI, dịch âm là: Thất Lợi Ma Ha Đề Tỳ, dịch nghĩa là: Kiết Tường Đại Thiên Nữ. Đây là vị Nữ Thần hay ban bố Phước Đức.

Thiên Nữ này vốn là một Vị Thần trong Thần thoại Ấn Độ, là Ái Phi của Na La Diên Thiên (Nàrayana Deva), mẹ của Thần Ái Dục (Kàma).

Truyền thuyết khác cho rằng Thiên Nữ này có tên là Lạc Khất-Sử Mính (Laksmi: Kiết Khánh hoặc Công Đức Thiên). Cha tên là Long Vương Đức Xoa Ca (Taksaka Nàga Ràja), mẹ tên là Ha Lị Đế Mẫu (Hrtye Màtr), anh tên là Tỳ Sa Môn Thiên (Vai’sravanïa Deva). 

Chân Ngôn là: 

- OM- ‘SRÌMMÀHALAKSMIYE SVÀHÀ

Sau này, Thiên Nữ cùng với chư Thần của hàng Đế Thích (Indra), Ma Hê Thủ La (Mahe’svara), Tỳ Thấp Nô (Visnu) v.v..du nhập vào Phật Giáo và trở thành hàng Thiên Thần Hộ Pháp cho Phật Giáo.

Truyền thuyết của Phật giáo Ấn Độ lại ghi nhận Thiên Nữ có cha tên là Long Vương Đức Xoa Ca, mẹ là Quỷ Tử Mẫu Thần, chồng là Tỳ Sa Môn Thiên Vương.

Theo Phật Giáo Trung Hoa, Công Đức Bổn Khởi Kinh ghi là: Thiên Nữ có cha tên là Luân Đầu Đàn Vương, mẹ là Pháp Giới Ma Gia. Còn trong Tế Dư Bản Đỉnh Kinh lại ghi là :Thiên Nữ có cha tên là Thiên Vương Đỉnh Đa Môn, mẹ là Đại Nữ Âm Cụ. Đồng thời, hầu hết Kinh Bổn đều ghi nhận Thiên Nữ Kiết Tường là Hậu Phi của Thiên Vương Tỳ Sa Môn và xác nhận Thiên Nữ là vị Bồ Tát Bát Địa, vì Đại Nguyện Lực nên hiện hình Thiên Nữ để ban bố lợi ích cho tất cả chúng sinh.

Kinh Đại Kiết Tường Kinh ghi: "Này Thiên nữ Kiết Tường! Ngươi sẽ ở Thế Giới Kiết Tường Bảo Trang Nghiêm thành Đẳng Chánh Giác, hiệu là Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác Kiết Tường Ma Ni Bảo Sanh".

Kiết Tường Thiên thường hiện ra 3 loại thân.

- Thượng Căn thì hiện hình Thiên Nữ Đại Biện Tài.

- Trung Căn thì hiện hình Thiên nữ Đại Kiết Tường.

- Hạ Căn thì hiện hình Công Đức Thiên. 


Tối Thắng Vương Kinh Già Đà ghi là: Thiên nữ Kiết Tường là mẹ của chư Phật. Đây chính là sự biểu thị cho Mẫu Năng Sanh của tất cả Phật Bồ Tát. Trong đó, Kiết Tường biểu thị cho nhiều ý nghĩa như: Đắc được Phước Đức, đầy đủ không thiếu sót Công Đức của mọi điều lành, tổng thể Bình Đẳng Bất Nhị, Luân viên cụ túc, sự tốt lành an vui của tất cả Phật Bồ Tát, tất cả điều kiết tường... vì là nền tảng sanh ra Phật, Bồ Tát, Phật Tử, nên Thiên nữ Kiết Tường biểu thị cho nghĩa là Mẹ của chư Phật. 

Kiết Tường Thiên Nữ còn được coi là một phân thân của Đức Như Lai Bảo Sanh.








Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2021

 Diệu Nghĩa Đà-la-ni

Kho Chân Ngôn Bí Mật Thông Dụng

(Phần II)


III. Thiên Long Bát Bộ Chân Ngôn

OM_ LOKA  ALOKA  KARÀYA_SARVA  DEVA  NÀGA YAKSA GANDHARVA  ASURA  GARUDA  KIMNARA  MAHORAGA HRDÀYA  ANYA  AKARSÀYA  VICITRA  GATI_ SVAHA.

Đây là Chân Ngôn tổng nhiếp Thiên Long Bát Bộ. Khi muốn phụng thỉnh nhất thiết Thiên Long Bát Bộ Hộ Pháp thì có thể dùng Chân Ngôn này mà phụng thỉnh thì tất cả chư vị liền đến. 


IV. Ngũ Bộ Kim Cương Đỉnh Chân Ngôn

A VAṂ RAṂ HAṂ KHAṂ

Đây là Chân Ngôn của 5 phần Pháp Thân. 

Nếu một ngày tụng một biến, 7 biến, 21 biến hoặc 49 biến thì hiệu lực công đức của một biến có phước như chuyển Tạng Kinh 100 vạn biến huống chi ngồi Thiền Tịch nhập vào Định Môn. Từ A Tự Môn quán chiếu rõ ràng rành rẽ như mặt trời chiếu sáng trên không tức là thấy rõ (Liễu kiến) Phật Tánh sẽ gặt được phước không có gì sánh được, thành tựu trí tuệ vô biên, hiện thân thọ chứng từng phần Pháp Thân, đến viên thành Vô Thượng Bồ Đề. 


V. Văn Thù Bồ Tát Ngũ Tự Tâm Chú

 A ra bạt giả na.

Kim Cang Ðảnh Kinh Ngũ Tự Chơn ngôn Thắng Tướng nói: Nếu người vừa tụng một biến, như tụng tám vạn bốn ngàn thập nhị Vi Ðà tạng kinh. Nếu tụng hai biến Văn Thù, Phổ Hiền liền theo gia bị, Hộ Pháp, Thiện Thần ở trước người đó. Lại nữa, nếu tụng một biến hay trừ tất cả khổ nạn của người tu hành. Nếu tụng hai biến trừ diệt ức kiếp sanh tử trọng tội. Nếu tụng ba biến Tạm Muội hiện tiền. Nếu tụng bốn biến được Tổng Trì bất vong. Nếu tụng năm biến mau thành Vô Thượng Bồ đề. Nếu người nhứt tâm ở riêng chỗ vắng vẻ, viết năm chữ Phạn làm vòng Đàn Pháp, y Pháp niệm tụng mãn một tháng rồi, Văn Thù Bồ Tát liền hiện thân kia, ở trong hư không diễn nói Pháp yếu, khi bấy giờ người tu hành được Túc Mạng Trí, biện tài vô ngại, thần túc tự tại, thắng nguyện thành tựu, phước trí đầy đủ, mau chứng Như Lai Pháp Thân. Chỉ có tín tâm thọ trì thì trải qua mười sáu đời quyết định thành Chánh Giác.


VI. QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT CAM LỒ CHƠN NGÔN 

Nẵng mồ ra đát nẵng, đát ra dạ dả, nẵng mồ a lị dã, phạ lồ chỉ đế thấp phạ ra dả, mạo địa tát đát phạ dả, ma hạ tát đát phạ dả, ma ha ca rô nĩ ca dả, đát nễ dã tha. Úm Độ Nĩnh Độ Nĩnh, Ca Độ Nĩnh Ta Phạ Hạ.

Kinh Quán Tự Tại Bồ Tát Đà-la-ni nói: Nếu người tụng Chú này, đời quá khứ, hiện tại đã tạo tứ trọng, ngũ nghịch, hủy báng Kinh Phương Đẳng, tội nhất xiển đề... hết thảy các tội đều được tiêu diệt không còn dư sót, thân tâm nhẹ nhàng, trí huệ minh mẫn. Nếu thân hoặc lời nói thảy hay lợi lạc tất cả hữu tình. Nếu có chúng sanh rộng tạo tất cả các tội Vô Gián, nếu được gặp người trì Chú này, hình bóng chói vào thân của người kia, thoạt được cùng nói chuyện, hoặc nghe tiếng nói người kia, tội chướng thảy đều tiêu diệt. Nếu muốn lợi ích tất cả hữu tình, mỗi khi trời mưa khởi đại bi tâm, ngửa mặt hướng hư không tụng Chơn Ngôn này 21 biến, mỗi giọt mưa kia thấm nhuần tất cả hữu tình, diệt hết tất cả nghiệp trọng tội, đều được lợi lạc.


VII. Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Chân Ngôn

TAYATA: OM BEKANDZE BEKANDZE MAHABEKANDZE RANDZA SAMUDGATE SOHA 

Thần Chú này nếu hành giả chuyên tâm thọ trì có thể tịnh hóa vô lượng vô biên nghiệp chướng, tăng tuổi thọ, trị lành tất cả bệnh khổ cho mình và cho người, tất cả tà ma quỷ mị không thể phá rối, tất cả yếm chú thư bùa của ngoại đạo và tinh mị không thể não hại. Nếu gia trì vào nước sau đó thí thực cho chúng sanh thì chúng sanh được vô lượng lợi ích, có thể xả bỏ mê đồ mà sanh về thiện cảnh giới.



VIII. Kim Cang Tát Đỏa Chân Ngôn

OM VAJRASATTVA SAMAYA MANUPALAYA VAJRASATTVA DENOPA TITHA DIDO ME BHAVA SUTO KAYO ME BHAVA SUPO KAYO ME BHAVA ANURAKTO ME BHAVA SARVA SIDDHI ME PRAYATSA SARVA KARMA SU ZAME CHITTAM SHRIYAM KURU HUM HA HA HA HA HO BHAGAVAN SARVA TATHAGATA VAJRA MAME MUNZA VAJRA BHAVA MAHA SAMAYA SATTVA AH HUM PHET. 

Tâm Chú: OM VAJRASATTVA HUM

Trì tụng Chân Ngôn này có thể cắt đứt giới hạn con đường tội lỗi, tịnh hóa tất cả nghiệp chướng, phá trừ tất cả sự nhiễm ô, khiến hành giả tốc đắc Tam Ma Địa. Đây là một thực hành trọng yếu trong Kim Cương Thừa.



IX. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Chân Ngôn


OM AH RA PA TSA NA DHIH  

Hành giả chí thành trì một biến thì Bồ Tát Văn Thù lập tức hiện thân, nhất tâm trì niệm thì tất cả tai nạn không đến thân, tất cả chướng ngại được tồi hoại, tất cả nghiệp chướng bị phá hủy, tất cả nguyện lớn sớm thành, phát sanh trí tuệ vô biên, mau chóng chứng quả Vô Thượng Bồ Đề.



X. A Di Đà Phật Nhất Tự Chân Ngôn

Chân Ngôn này luôn luôn đi theo với Úm Ma Ni Pát Mê Hum. Căn cứ theo mật truyền, nên thêm Úm A Di Ðát Phạ và thêm chữ Sóa Ha cũng được.

 Chơn Ngôn:

“Hật Rị” (HRIH)

Om A Mi Tabha Hrih.

Úm A Di Ðát Phạ Hật Rị Sa Ha.

 

Kinh dạy: Chữ "Hật Rị" (HRIH) đủ bốn chữ thành một Chơn Ngôn. Chữ Hạ tự môn, nghĩa là tất cả pháp nhơn bất khả đắc. Chữ RA tự môn, nghĩa là tất cả pháp ly trần. Trần nghĩa là ngũ trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc). Cũng gọi hai món chấp trước năng thủ và sở thủ. Chữ Y tự môn, là tự tại bất khả đắc, phát sanh Ác tự nghĩa. Chữ Ác gọi là Niết Bàn. Do giác ngộ các pháp vốn không sanh, đều xa lìa món chấp trước, chứng được pháp giới thanh tịnh. Chữ "Hật Rị" này cũng nói là tàm (hổ thẹn), nếu nói đủ là tàm quí (hổ thẹn), tự thẹn với lương tâm mình và xấu hổ đối với kẻ khác, vì thế nên không làm tất cả điều bất thiện. Ðầy đủ tất cả pháp lành vô lậu vậy. Cho nên Liên Hoa Bộ cũng gọi là Pháp Bộ.

Do gia trì chữ "Hật Rị" này mà ở thế giới Cực Lạc, nước, chim, cây, rừng đều diễn nói pháp âm. Rộng như trong kinh đã thuyết minh. Nếu có người nào trì một chữ Chơn Ngôn này, có công năng hay diệt trừ tai họa, tật bệnh. Sau khi chết sẽ sanh về cõi An Lạc quốc, được Thượng Phẩm Thượng Sanh. Ðây là nhứt thông tu Quán Tự Tại Tâm Chơn Ngôn của người tu hành và cũng là hay trợ giúp cho các người tu các bộ Du Già vậy.



XI. Văn Thù Bồ Tát Nhất Tự Chân Ngôn


  OMÏ  ‘SRHYIMÏ


Đây là Chân Ngôn của Ngài Diệu Cát Tường Bồ Tát (Mamïju‘sri Bodhisatva) hay còn gọi là Nhất Kế Văn Thù Bồ Tát, Nhất Man Văn Thù Bồ Tát. 

Kinh Văn Thù Sư Lợi Căn Bản Nhất Tự Đà-la-ni có ghi rằng: Đà-la-ni này hay diệt trừ tất cả yêu quái tà ác, là Pháp Cát Tường của tất cả Chư Phật, cũng hay thành tựu tất cả Chân Ngôn. Tụng Đà-la-ni này hay khiến cho chúng sinh khởi tâm Đại Từ. Tất cả chướng ngại đều được tiêu diệt và đều được đầy đủ mọi ước nguyện. Nếu có người nữ bị tai nạn lúc sinh sản hoặc người nam bị tên bắn cho đến bị tất cả các bệnh tật khổ, thì tụng Đà-la-ni này sẽ trừ diệt được tất cả hiểm nạn. Lại nữa Đà-la-ni này hay khiến cho chúng sinh trong đời hiện tại đắc được an ổn, Chư Phật cùng Đại Bồ Tát thường là quyến thuộc, tất cả sở nguyện đều được thành tựu. 

Hành giả thường xuyên hành trì Chân Ngôn OMÏ ‘SRHYIMÏ  để bảo hộ tự thân nhằm ngăn ngừa tất cả Quỷ Thần, Thiên Ma đến não hại và cầu được viên mãn mọi sở nguyện.



XII. Nhất Tự Đảnh Luân Vương Chân Ngôn


BHRÙMÏ 


Theo Kim Cương Thừa thì Nhất Tự Đỉnh Luân Vương là Mật Hiệu của Đại Nhật Như Lai, là Tổng xưng mọi Đức của Pháp Thân. Trong một chữ này nhiếp vô tận Mật Pháp. Trong một Ấn chứa hằng sa Ấn. Lực phá hủy các nghiệp ác mạnh hơn Chư Phật và mau chóng thành tựu Công Đức vượt hơn hẳn các Pháp khác. Chân Ngôn này được Đức Đại Nhật Như Lai tuyên thuyết khi Ngài nhập vào Tối Thắng Tam Ma Địa . Và BHRÙMÏ biểu thị cho nghĩa Tam Thân Nhất Thể.


Trong Nhất Tự Đỉnh Luân Vương Kinh có ghi là: Đức Phật Thích Ca ngồi ở Kim Cương Đạo Tràng dưới gốc cây Bồ Đề trong nước Ma Kiệt Đà, nhận lời thỉnh cầu của Kim Cương Mật Tích Chủ Bồ Tát nhập vào Tam Ma Địa, hiện thành tướng Đại Chuyển Luân Vương nói NHẤT TỰ ĐỈNH LUÂN VƯƠNG CHÚ thì Đại Thiên Thế Giới chấn động . . . 

Nếu dùng Tôn này làm Bổn Tôn của Pháp tu tất cả Tất Địa với Pháp Trừ Tai  thì sẽ trừ diệt được vô lượng các tội chướng rất nặng của đời hiện tại, cũng có thể vượt qua các nẻo ác, trừ bệnh tật và chứng Đạo Bồ Đề . . . 

Lại nữa, BHRÙMÏ còn được tôn xưng là MẠT PHÁP NHẤT TỰ Đà-la-ni nghĩa là trong thời Mạt Pháp, chú này có thế lực rất lớn như: Làm lợi ích lớn cho thế gian, bảo hộ tất cả Pháp Tạng của Như Lai, hàng phục tất cả chúng tám Bộ, hay ban Pháp vô úy cho chúng sinh, thường giúp chúng sinh được mọi phỉ lạc, giúp cho hành giả mau chóng thành tựu tất cả Chân Ngôn khác và thường hay giúp cho chúng sinh viên mãn tất cả ước nguyện. 

Nhất Tự Chú này là Đỉnh của tất cả chư Phật là Tâm của Văn Thù Bồ Tát. Nếu tụng Chú này thì trong khoảng năm Do Tuần, các Tinh Tú ác không dám đến gần, các Quỷ Thần ác đều tự lánh xa, các loài Thiên Ma không dám đến não hại, tất cả tội chướng của người trì tụng đều được thanh tịnh và người ấy có thể vào trong các Bộ không bị chướng ngại đồng thời có công năng bẻ gãy tất cả ác Chú trong thế gian, viên mãn mọi Pháp tu trì . 

- Trong Mạt Pháp Nhất Tự Đà-la-ni Kinh có bài Tụng rằng: 

"Hết thảy các Phật Tử 

Các ông nên lắng nghe 

Nay Ta  nói  Chú  này 

Đầy đủ các công đức 

Sau này  khi  đời  ác 

Pháp Ta sắp muốn diệt

Hay ở trong thời ấy 

Hộ trì Mạt  Pháp Ta 

Hay trừ  ác Thế Gian 

Các Quỷ Thần độc hại

Thiên Ma với người ác

Hết thảy các Chú Pháp

Nếu nghe tên Chú này 

Thảy đều tự nép phục 

Sau khi Ta diệt độ 

Phân khắp Xá Lợi rồi 

Sẽ ẩn các tướng tốt

Biến thân làm Chú này ( BHRÙMÏ ) 

Phật có hai thứ thân 

Chân Thân và Hóa Thân

Nếu hay cúng dường ấy 

Phước Đức không có khác 

Chú này cũng như thế

Tất cả các Trời Người 

Thường sinh lòng hy hữu 

Thọ trì và cúng dường 

Sẽ được các công đức

Như thân Ta không khác

Công đức Chú Vương này 

Nay Ta chỉ lược nói "

Cho nên, Chân Ngôn BHRÙMÏ còn được xem là Chủng Tử Pháp Thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Như vậy, khi trì niệm BHRÙMÏ hành giả sẽ được Chư Như Lai, Chư Vị Bồ Tát, các vị Hiền Thánh, các bộ Thánh Thiên, Quỷ Thần... trong Pháp Giới hộ trì để giúp cho hành giả tự khai mở được Chánh Pháp của chính mình, từ đó an nhiên thi hành vạn hạnh lợi tha cho đến khi thấu ngộ được tướng Trừ Ám Biến Minh của Nhật Luân Tam Muội thì tự mình thành tựu được Trí Tuệ của Như lai vậy. Đây là giai đoạn nương theo lực gia trì của Pháp Thân Như  Lai để chứng ngộ Phật Trí vốn có nơi mình.




  Diệu Nghĩa Đà-la-ni

Kho Chân Ngôn Bí Mật Thông Dụng

(Phần I)

Đây là phần tham học chí thành của Sư Cô- một hành giả Kim Cương Thừa, cũng là đệ tử của Sư Phụ Long Viễn. Trong sự tôn nghiêm thanh tịnh, Sư Cô với Đại Tâm cầu pháp chí thành chí kính, những lời Pháp nhũ vi diệu này được Sư Phụ nói lên thật lợi ích không thể nghĩ bàn.

***

Sư Cô bạch: 

Thưa Sư Phụ Chân Ngôn hay Đà-la-ni nghĩa là gì ạ? Diệu dụng như thế nào? Nguyện xin Sư Phụ từ bi diễn nói cho con, để con và chư huynh đệ minh liễu, hành dụng pháp này để đạt lợi ích chân thật cho mình, cho người và cho chúng sanh ạ?


Sư Phụ đáp: 

Đức Văn Thù Bồ Tát từng dạy:

"Tổng Trì như thuốc hay

Thường chữa các bệnh mê

Như Cam Lồ trời kia

Người được thường bất từ"

 Chân Ngôn hay Đà-la-ni có nghĩa là Tổng Trì, Năng Trì, Năng Già...

Tổng Trì có nghĩa là Tổng tất cả các pháp, Trì vô lượng nghĩa. Tổng Trì có 4 loại là: Pháp Trì, Nghĩa Trì, Tam Ma Địa Trì, Văn Trì. 

A . Pháp Trì: Do được Trì này mà phá tan tất cả các Pháp ô nhiễm và chứng được giáo pháp từ nơi Pháp Giới thanh tịnh . 

B . Nghĩa Trì: Do được Trì này nên ở trong nghĩa của một chữ mà được trăm ngàn vô lượng hạnh của Tu Đa La (Sūtra: Khế Kinh) và diễn nói thuận nghịch không có chướng ngại, được biện tài vô ngại. 

C . Tam Ma Địa Trì: Do được Trì này nên Tâm không phóng dật được Tam Muội hiện tiền, ngộ được vô lượng trăm ngàn môn Tam Ma Địa. Vì tăng trưởng Tâm Bi của Bồ Tát cho nên dùng nguyện thọ sinh nơi sáu nẻo mà chẳng bị căn bản phiền não (Mūla-kleśa) với tùy phiền não (Upakleśa) phá hoại được Tam Muội ấy. Lại do Tam Ma Địa này mà chứng được năm thần thông để thành tựu sự lợi lạc cho vô biên chúng hữu tình. 

D . Văn Trì: Do đây mà thọ trì Đà-la-ni để thành tựu sự nghe, nhận lãnh tất cả Khế Kinh của tất cả Như Lai trong mười phương và tất cả Bồ Tát, nghe được trăm ngàn vô lượng Tu Đa La (Sūtra: Khế Kinh) mà chẳng hề quên mất.

Còn Năng Trì là nhóm các thiện pháp, giữ gìn không tán không mất. 

Năng Già là tâm ác bất thiện chưa sanh, hay ngăn làm cho không sanh. Dứt ác không làm, tu thiện phát sanh, thiện đức tăng trưởng, viên thành Đại tâm, đó gọi Đà-la-ni... 

Bồ Tát được Đà-la-ni, thì đối với hết thảy pháp đã được nghe, do niệm lực giữ gìn không mất, Bồ-tát nhờ được lực Đà-la-ni mà hết thảy Ma vương, Ma dân, Ma nhân, tất cả tinh mị yêu quái không thể làm lay động, không thể phá, không thể hoại, như núi Tu-di miệng người phàm thổi không thể lay động được. Bồ Tát nhờ Đà-la-ni mà thành tựu tất cả pháp, tất cả nguyện, tất cả trí, tất cả lực, tất cả phước lành, tất cả công đức... Bồ Tát được Đà-la-ni thì dựng cờ Thập Trí, viên chứng Thập Thân, tồi hoại tứ ma, xuất ấm giới ngục, tùy duyên tự tại, kiến lập đạo tràng, vô ngại độ sanh,Từ Phụ tứ sanh, Đạo sư trời người.

- Chân Ngôn cũng có đủ 4 nghĩa, Chân là tương ứng Chân Như, Ngôn là tuyên thuyết nghĩa bí mật chân thật. Bốn nghĩa của Chân ngôn là:

 1 . Pháp Chân Ngôn: Là Pháp giới thanh tịnh dùng làm Chân Ngôn .

 2 . Nghĩa Chân Ngôn: Là tương ứng Thắng nghĩa, trong mỗi mỗi chữ có sự tương ứng chân thật . 

3 . Tam Ma Địa Chân Ngôn: Do bậc Du Già dùng Chân Ngôn này để bố liệt (an bày) văn tự của Chân Ngôn lên trên vành trăng KÍNH TRÍ của Tâm, đồng thời chuyên chú Tâm chẳng lay động mà mau chóng chứng được Tam Ma Địa. Vì thế gọi là Tam Ma Địa Chân Ngôn . 

4 . Văn Trì Chân Ngôn: Từ chữ OṂ cho đến chữ SVĀHĀ có bao nhiêu văn tự ở khoảng giữa thì mỗi mỗi chữ đều gọi là Chân Ngôn, cũng gọi là Mật Ngôn và cũng có đủ 4 nghĩa : 

a . Pháp Mật Ngôn: Chẳng phải là phi pháp với cảnh giới của Nhị Thừa và Ngoại Đạo mà chỉ tu Chân Ngôn Hạnh Bồ Tát. Tất cả Sở văn, Sở tu, Ấn khế, Mandala, tu hành Sở cầu Tất Địa đều gọi là Pháp Mật Ngôn

 b . Nghĩa Mật ngôn: Mỗi mỗi chữ trong Chân Ngôn thì chỉ có Phật với Phật cùng với Bậc Bồ Tát đại uy đức mới có thể liễu triệt mà thôi.

 c . Tam Ma Địa Mật Ngôn: Do Tam Ma Địa và văn tự của Chân Ngôn trong sự kiện này mà tương ứng thành tựu được uy lực .

 d . Biến Bố Mật Ngôn: Tức là theo Thầy mật truyền quy tắc của ba Mật, chỉ có Thầy và Đệ Tử biết thôi chẳng thể cho người khác biết được cho đến Quán Môn, Ấn Khế, hình tượng của Bản Tôn cũng mật thọ trì cho đắc được Tam Ma Địa.


Sư Cô hỏi tiếp

Đà-la-ni có bao nhiêu thứ ạ?


Sư Phụ dạy: 

Pháp Đà-la-ni có rất nhiều thứ như: Có Văn Trì Đà-la-ni. Người được Đà-la-ni này, hết thảy các pháp ngữ ngôn, tai đã được nghe, đều không quên mất. Lại có Phân Biệt Trí Đà-la-ni người được Đà-la-ni này, phân biệt hết các chúng sanh, các pháp lớn, nhỏ, tốt, xấu như kệ nói:

“Các voi, ngựa, vàng

Cây, đá, y phục,

Nam nữ và nước,

Các thứ bất đồng.

Các vật tên một,

Quý tiện khác nhau,

Được Tổng Trì này,

Phân biệt được hết”.

Lại có Nhập Âm Thanh Đà-la-ni, vị Bồ Tát được Đà-la-ni này, nghe hết ngữ ngôn âm thanh, không mừng không giận. Nếu hết thảy chúng sanh trải qua kiếp số như cát sông Hằng, dùng lời ác mắng nhiếc, tâm Bồ-tát cũng không lay động, không ghét hận.

Lại có Danh Tịch Diệt Đà-la-ni, Vô Biên Triền Đà-la-ni, Tùy Địa Quán Đà-la-ni, Oai Đức Đà-la-ni, Hoa Nghiêm Đà-la-ni, Tịnh Âm Đà-la-ni, Hư Không Tạng Đà-la-ni, Hải Tạng Đà-la-ni, Phân Biệt Chư Pháp Địa Đà-la-ni, Minh Chư Pháp Nghĩa Đà-la-ni, Phân Biệt Chúng Sanh Đà-la-ni, Quy Mạng Cứu Hộ Bất Xả Đà-la-ni...

Lược nói có năm trăm Đà-la-ni môn như vậy. Nếu nói rộng thời có vô lượng. Còn theo Kinh Pháp Hoa phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát thì có thể lập ra ba loại Đà-la-ni môn: Toàn Đà-la-ni, Bách Thiên Vạn Ức Đà-la-ni, Pháp Âm Phương Tiện Đà-la-ni.


Sư Cô thưa hỏi:

Bồ Tát muốn nhập Đà-la-ni để thành tựu đại Bồ Đề Tâm thì phải như thế nào ạ?


Sư Phụ đáp:

Bồ Tát muốn nhập Đà-la-ni thì phải tu ba pháp:

Một là phát Bồ Đề Tâm

Hai là hộ trì Chánh Pháp

Ba là như Pháp tu hành.

Bồ Tát tu ba pháp này thì gọi là chân thật cúng dường chư Phật, xuất sanh căn lành, phước báo vô lượng, thành tựu tất cả Đà-la-ni, viên giác Đại Tâm, Bồ Tát được Vô ngại Đà-la-ni.


Sư Cô cung kính bạch:

Nguyện xin Sư Phụ từ bi diễn nói bí mật tạng về kho Chân Ngôn thông dụng để chúng con tùy duyên làm Phật sự không có chướng ngại được không ạ?


Sư Phụ chỉ dạy:

 Con là một hành giả Kim Cương con cũng biết, tất cả Chân Ngôn muốn thành tựu thì phải nhận quán đảnh và giáo lý khẩu truyền của một vị Đạo Sư để thực hiện đại Ấn hành dụng Tam Mật mới thành tựu như ý được. Tuy nhiên hôm nay Sư Phụ sẽ nói về kho Chân Ngôn thông dụng trong bí mật tạng, nhưng con phải biết với chánh trí là tuy Sư Phụ diễn nói y Kinh là như thế, nhưng khi con muốn thực hành thì phải cầu thỉnh để nhận được sự quán đảnh và giáo lý khẩu truyền bí mật thì con mới có thể thành tựu, con không được vượt qua các Giới Nguyện của Kim Cang Thừa; đây là điểm quan trọng nhất mà tất cả hành giả Kim Cương đều phải liễu đạt.


KHO CHÂN NGÔN BÍ MẬT THÔNG DỤNG

Đây là một số những Chân Ngôn bí mật thông dụng mà con phải nhớ để khi làm Phật Sự con hành trì ứng dụng, giúp con bạt trừ tất cả chướng ngại, thành tựu Bồ Đề Tâm của mình.


I. Vô Lượng Thọ Như Lai Đà-la-ni

NAMO RATNA-TRAYĀYA NAMAḤ ĀRYA-AMITĀBHĀYA TATHĀGATĀYA ARHATE SAMYAKSAṂBUDDHĀYA TADYATHĀ: OṂ_ AMṚTE _ AMṚTODBHAVE _ AMṚTA SAṂBHAVE _ AMṚTA-GARBHE _ AMṚTA SIDDHE _ AMṚTA TEJE _ AMṚTA VIKRĀNTE _ AMṚTA VIKRĀNTA GAMINE _ AMṚTA GAGANA KĪRTTI KARE _ AMṚTA DUṆḌUBHISVARE _ SARVĀRTHA SĀDHANE KARMA KLEŚA KṢĀYAṂ KARE_ SVĀHĀ.

Hán dịch:

Nẵng mô la đát-nẵng đát-la dạ dã, Nẵng mạc a lý-dã nhĩ đá bà gia, đát tha nghiệt đá dạ, la hạ đế, tam miệu tam một đà gia, Đát nễ-dã tha. Án, a mật-lật đế, A mật-lật đố nạp-bà phệ, A mật-lật đa tam bà phệ, A mật lật đa nghiệt bệ, A mật-lật đa tất đệ, A mật-lật đa đế tế, A mật-lật đa vĩ cật-lân đế, A mật-lật đa vĩ cật-lân đa, nga nhĩ ninh, A mật-lật đa, nga nga nẵng, cát để ca lệ, A mật-lật đa thú nổ tỳ, sa phộc lệ, tát phộc la-tha, sa đà ninh, tát phộc yết ma cật-lễ xả, khất-sái dựng, ca lệ, sa-phộc hạ.

Đây là bí mật công đức nội chứng của Đức A Di Đà Như Lai.

Nếu chí thành tụng một biến thì các tội mười ác, tứ trọng, ngũ vô gián... tất cả nghiệp chướng thảy đều tiêu diệt.

Nếu có Tỷ Kheo hoặc Tỷ Kheo Ni phạm tội căn bản, chí thành tụng bảy biến, tức thời trở lại giới phẩm thanh tịnh. 

Tụng mãn một vạn biến thì đắc Bất Phế Vong Bồ Đề Tâm Tam Ma Địa, Tâm Bồ Đề hiển hiện trong thân. Đức A Di Đà Như Lai thường hiển hiện trên đảnh đầu vị ấy, lúc lâm chung sẽ được thấy Đức A Di Đà Như Lai cùng chư vị Bồ Tát vây quanh tiếp dẫn về cõi Cực Lạc, sanh về Thượng Phẩm Thượng Sanh chứng đại quả vị của Bồ Tát. 


II. Địa Tạng Bồ Tát Diệt Định Nghiệp Chân Ngôn

OM PRA MANI DHANI SVAHA

Chân Ngôn này với thân Bồ Tát Địa Tạng bất nhị, nên nếu tu trì thì mình với Pháp Thân Bồ Tát thể nhập làm một.

Tất cả nghiệp chướng, báo chướng, kiến chướng, phiền não chướng, ma chướng... hay dù là định nghiệp cũng thảy đều tiêu tan và đều tồi phục. Thành tựu vô biên phước trí, hết thảy nguyện lớn sớm thành. 




Thứ Năm, 8 tháng 4, 2021

TÙY DUYÊN SANH TỬ SỰ

        ---_۞ --------۞------- ۞---


Hoàng hôn về giăng lối

Trên mọi bước đường qua

Thuyền con xuôi về biển

Không dấu vết sơn hà.


Trùng dương khơi sóng vỗ

Lay động cõi Ta Bà

Chín phương trời  bùng cháy

Ôi, băng lạnh lòng ta!


Cố quốc ai về đó?

Cho tôi gởi chút lòng

Thuyền đơn trôi không bóng

Lặng lẽ vượt trên sông.


Bước qua đời hư thực

Trông vạn kiếp phù sinh

Đôi bờ sanh tử mộng

Tay ôm trọn hữu tình.


Đêm nay mưa vắng giăng rừng tối

Hồn mưa tan tác rụng tơi bời

Tiếng mưa rả rích, ôi sầu lắng

Đèn khuya hiu hắt bóng một người...


Một người lặng lẽ giữa đêm giông

Khóc phận lênh đênh quạnh siết lòng

Nửa mảnh hồn tan theo cuộc thế

Khêu đèn soi bóng giữa trời đông.


Du hý cõi trần mấy mươi năm

Quán trọ trần gian sắp mãn phần

Đại Tâm huyết lệ chưa thành chí?

Ngày về lại đến với thiên thân?


Trông tháng ngày đi trong xót xa

Lệ rơi thành suối nhuốm Ta Bà

Lệ rơi theo tiếng cười sanh chúng

Âm thầm lệ điểm tháng ngày qua.


Ngày qua

Trong tiếng lệ lòng

Bi tâm

Soi bóng

Bồ Đề mười phương.


Bồ Đề vốn vô sanh

Vì không pháp khả đắc

Do không pháp khả đắc

Tất cả tức Bồ Đề?


Tánh nghiệp vốn không tịch

Chỗ chúng sanh y chỉ

Khắp làm các sắc tướng

Chẳng lại có đến đi?


Từ Vô tướng thụ thân

Duyên sanh giấc mộng trần

Tùy duyên sanh tử sự

Tự tại bước thong dong!


                Đêm Đà Lạt 09/04/2021

                        _۞ Thích Long Viễn_۞_













Thứ Tư, 7 tháng 4, 2021

Ấn Hỏa Truyền Tâm

         (Tưởng nhớ Đạo Sư)


Kim Cương tâm Ấn xưa Thầy truyền

Liễu triệt Bồ Đề tánh bản nhiên

Tráng cao Ấn quyết vòng lửa cháy

Thiên thu độ chúng thoát ngũ triền!

                               Đà Lạt 07/04/2021

                          -Thích Long Viễn-