Thứ Năm, 19 tháng 8, 2021

 TIÊN ĐẠO 

Và

CON ĐƯỜNG KHÔNG HỐI TIẾC


Vào một buổi chiều khi ánh tịch dương dần dần tiến về dãy núi xa xa, xuyên ánh vàng qua từng kẽ lá trong khu rừng ấm cúng, vang vọng tiếng chuông chùa ngân nga như phá tan cảnh giới u minh của muôn loài hàm thức. Những tia nắng vàng soi bóng thấp thoáng hai cô Phật tử xa xa, dưới rừng Xà Cừ, họ đến thăm Sư Phụ Long Viễn, sau khi chào đón hỏi thăm xong, một cô trịnh trọng bạch hỏi:

Hỏi: 

- Kính bạch Thầy, từ lâu con đã tu hành theo Tiên đạo, thường đến những nơi có Mẫu mẹ nhập xác để hầu, chỉ mong Mẫu Mẹ thương tình tạo duyên mở căn để con làm lợi ích cho chúng sanh, và rồi con cũng toại nguyện, con đã có một đền thờ Mẫu rất lớn, Mẫu hay nhập xác con cứu độ nhiều người, không biết đường tu Tiên đạo của con như thế có đúng không?

Đáp: 

- Thật ra đạo cô tu không phải Tiên đạo như cô hằng nghĩ, đây là cô tu Điển, luyện Điển mà thôi!

Hỏi: 

- Vậy Thầy có biết thế nào là Tiên đạo thật sự không?

Đáp:

- Đương nhiên tôi biết rất rõ.

Hỏi:

- Nguyện xin Thầy từ bi chỉ dạy cho con, Tiên đạo thật sự là thế nào?

Đáp:

- Vậy cô hãy chánh tâm tác ý lắng nghe, tôi sẽ vì cô mà lược nói. Ở trong loài người đây, có những người thiếu căn lành, không đủ duyên gặp những bậc Chân Nhân, Thiện Tri Thức hay những bậc Thánh, cho nên không thể phát sanh chánh kiến, tu tập chánh định. Với tư tưởng muốn trường sinh bất tử, muốn chứng ngộ thần thông, làm những việc phi thường... nên họ đi vào rừng núi thâm sâu hẻo lánh, chỗ không có người tới lui, mỗi người đều có những vọng niệm khác biệt, họ gom tư tưởng lại chuyên chú, kiên cố hình hài, cốt chỉ để đắc đạo thành Tiên. Như Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy có 10 hạng như sau:

1. Địa Hành Tiên: Hạng người chuyên tìm các thứ bổ dưỡng để ăn, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi đạo ăn thành tựu, gọi là Địa Hành Tiên.

2. Phi Hành Tiên: Hạng người chuyên ăn các thứ cỏ cây, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi đạo thuốc thành tựu, gọi là Phi Hành Tiên.

3. Du Hành Tiên: Hạng người chuyên luyện vàng, đá, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi đạo hóa chất thành tựu, gọi là Du Hành Tiên.

4. Không Hành Tiên: Hạng người chuyên vận khí dưỡng tinh, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi đạo khí tinh thành tựu, gọi là Không Hành Tiên. Đạo này xưa ở Trung Quốc rất thịnh hành, họ luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hóa hư và luyện hư hợp đạo. Khi đã đã hợp đạo rồi thì sẽ đắc đạo thành tiên. 

5. Thiên Hành Tiên: Hạng người chuyên nhai nuốt nước miếng, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi nhuận đức thành tựu, gọi là Thiên Hành Tiên. 

6. Thông Hành Tiên: Hạng người chuyên hút tinh hoa nhật nguyệt, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi hút khí tinh túy thành tựu, gọi là Thông Hành Tiên. 

7. Đạo Hành Tiên: Hạng người chuyên luyện bùa chú, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi thuật pháp thành tựu, gọi là Đạo Hành Tiên.

8. Chiếu Hành Tiên: Hạng người chuyên luyện về trầm tư tĩnh niệm, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi công phu tư niệm thành tựu, gọi là Chiếu Hành Tiên. 

9. Tinh Hành Tiên: Hạng người chuyên luyện về thủy hỏa giao cấu, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi đạo cảm ứng thành tựu, gọi là Tinh Hành Tiên. 

10. Tuyệt Hành Tiên: Hạng người chuyên luyện về biến hóa, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi tâm tĩnh giác thành tựu, gọi là Tuyệt Hành Tiên. 

Đó là 10 hạng Tiên đạo, người tu Tiên đạo có lợi ích chân thật không? Đây, cô hãy nghe Đức Phật dạy: "Này A Nan! Những hạng Tiên nhân đó đều ở trong nhân đạo mà tu vọng niệm, chẳng tu chánh giác, chỉ đạt công hiệu về sức sống, thọ ngàn vạn tuổi, ở ẩn trong núi rừng sâu thẳm, hoặc trên đảo giữa biển khơi, cách tuyệt với người đời. Tuy vậy, vì không tu chánh định, vẫn đầy dẫy vọng tưởng, họ vẫn trôi lăn trong luân hồi, khi quả báo hết rồi, lại lưu lạc vào các nẻo."

Những hành giả tu Tiên đạo, do dùng định tâm chuyên chú, khiến cho tưởng thức sanh khởi, do tưởng thức sanh khởi câu hữu với hành uẩn nên biến hiện ra cảnh giới "Duy tâm sở hiện" mà thôi. Cô tu Điển có phần cũng giống như thế. Tuy nhiên dù đã đắc đạo thành Tiên cũng không thể thoát khỏi bàn tay của Vô thường sát quỷ, vẫn triển chuyển trong lục đạo luân hồi; huống chi pháp tu Điển của cô? Nếu Mẫu mà cô tin tưởng có thần lực lớn không thể suy lường, thế thì tại sao lại mượn thân người phàm mà nhập xác? Cô cần phải tư duy với trí tuệ! Đạo là con đường đi, chúng ta phải đi trên nó, đừng để nó đồng hóa với mình và chuyển mình mà mình phải biết chuyển nó. Tuy nhiên có rất nhiều con đường để chúng ta lựa chọn. Hãy lựa chọn một con đường với con mắt trí tuệ! Một con đường mà chúng ta bước đi trên nó một cách thanh thản, khinh an, an lạc, hỷ lạc, vô sự, giải thoát khỏi tất cả sầu bi khổ ưu não, làm chủ bốn sự thật là sanh già bệnh chết, thoát khỏi lục đạo luân hồi, chấm dứt tái sanh. Đây là con đường mà tôi đang đi, con đường mà tôi đang đi là con đường không bao giờ hối tiếc!

Sau đó, hai cô Phật tử dường như đã nhận định được con đường mình cần phải đi, cô rơi lệ và đảnh lễ Sư Phụ lui ra.




Thứ Ba, 3 tháng 8, 2021

 

HUẤN THỊ CHO MỘT HÀNH GIẢ CAO CẤP (Phần III)


3. QUYẾT NGHI, TRẠCH PHÁP VÀ TUYỂN CHỌN PHÁP HÀNH GỐC ĐỂ TU:

Đệ Tử: Dạ, đúng như cái câu mà Sư Phụ nhắc hoài là cái trọng yếu khi tu Pháp môn niệm Phật là câu Đức Phật khai thị Phụ vương là tâm không dao động “Tất cả pháp không sinh, không dao động, không tướng mạo, không tự tánh” đúng không Sư Phụ?

Sư phụ: Đúng rồi con, bây giờ phần lớn tại sao Pháp môn Tịnh Độ nó chỉ hành một lối phiến diện thôi, bởi vì bây giờ người ta chỉ xiển dương về Tịnh Độ thù thắng, về 48 Bổn Nguyện của Đức Phật, về Trì Danh. Nhưng thật tiếc thay, về cái thực tướng Niệm Phật thì mọi người bỏ lơ đi. Mà nếu như một hành giả mà bỏ lơ chỗ này thì muôn đời làm sao đắc được Phật quả, làm sao sanh Tây Phương? Thí dụ, nhiều người cứ nói “Nam Mô A Di Đà Phật” thì mình cứ niệm hoài như thế thì từ từ nhiều niệm nó đến nhất niệm. Từ nhất niệm đến vô niệm. Nhưng con biết cái tâm - ý - thức của mình nó kinh khủng. Một ngày nó khởi biết bao nhiêu niệm mà mình dùng cái câu “Nam Mô A Di Đà Phật” mình đè. Mà mình ép cái tâm mình thì cái đó đâu phải là Pháp dạy của Đức Phật? Pháp của Đức Phật là mình ứng dụng giải thoát trên cái Pháp đó. Chứ không phải mình dùng cái Pháp để mình đè nó xuống, giống như là mình đè cỏ. Nhưng mà một số người thì họ lại cho rằng niệm Phật vọng tưởng mặc kệ. Mai mốt Thầy sẽ dạy những cái quan điểm của những vị Tổ sư để mình hiểu Pháp môn Tịnh Độ một cách đầy đủ và viên dung các tư tưởng. Nhưng mà cái mình nhắm đến và cái Đức Phật hoan hỷ mình biết rất rõ là cái mà mình giác ngộ. Mình nương vào Phật để mình giác, chớ mình không lệ thuộc vào ông Phật, con hiểu không? Pháp mà Đức Phật dạy bao giờ cũng như vậy hết. Cũng giống như là mình thấy: Khi mình nghiên cứu hệ Nguyên Thủy về 5 Cách Ly Dục, Ly Ác Pháp thì mình thấy thực ra mà nói pháp môn Thiền Tông Đại Thừa của mình nó chỉ là một trong năm cách mà Đức dạy thôi. Thí dụ bây giờ con thấy, cái vọng tưởng của mình, mình biết nhưng mà nó cứ vọng hoài trừ khi con phải thiền định thật sâu để con thấy cái vọng này tự thể là không, mà mình muốn biết cái vọng tự thể là không, đương nhiên mình phải thấy cái thân và cái tâm là không. Chứ bây giờ con cứ biết vọng biết vọng, cứ ngồi đó mà biết, biết chừng nào, rồi chừng nào con mới chứng? Cứ ngồi đó biết, mà cái vọng nó mông lung, nó trùng trùng điệp điệp, biết khi nào? Cho nên con phải tuyển trạch Pháp tu, tu như thế nào mà có thể giác ngộ nhanh nhất.

 Là một hành giả phát Bồ Bề Tâm, bước trên đạo lộ Bồ Tát, con phải dùng cái trí tuệ, để con đi vào Pháp giới, để con nhận định để con chọn cái Pháp môn thù thắng nhất cho mình. Cho nên Bồ Tát không có Pháp môn tu là chỗ đó. Thí dụ họ thông suốt hết tất cả các Pháp môn, rồi họ có thể xáo trộn ứng dụng nó, làm sao để mình chứng ngộ nhanh nhất. Cho nên Bồ Tát phải dùng cái trí tuệ đi vào Pháp giới. Ngày xưa, Thầy đã bỏ rất nhiều thời gian nghiên cứu và tư niệm, cuối cùng thì thấy các Tông phái hình thành từ cái nền tảng gốc của Đức Phật. Mà nền tảng gốc chính là 5 bộ Nikaya, cho nên thiệt ra cái niệm Phật này cũng nằm trong Nikaya đó con. Là Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng, Niệm Giới, Niệm Thí, Niệm Thiên... Và Pháp niệm Phật, Đức Phật cũng dạy rất cụ thể. Mình cần biết rằng Pháp khế hợp với căn cơ thì gọi là đệ nhất hết. Giống như Đức Phật nói Pháp Hoa là vua các Kinh. Rồi Kim Quang Minh Kinh cũng là vua của các Kinh... như Kinh nào mới thật sự là vua của các Kinh? Chỗ này là vì sao? Vì nó khế hợp với căn cơ. Nhưng mà mình phải đứng ngoài để mình thâu nhiếp. Mình không nên đứng trên một tư tưởng để mình phán định. Và nên đi về cái gốc của từng pháp môn mà nguồn gốc chính là tư tưởng của Đức Phật. Đến đây, thì con thấy niệm Chân ngôn, thực tướng của Chân ngôn cũng không khác với thực tướng của niệm Phật, đó là một, thực chất chỉ là một thôi.

Sau này con học những câu duyên sanh của Chân Ngôn, con thấy Chân Ngôn thật ra cũng là một phương tiện để chúng sanh liễu ngộ thân tâm và các Pháp. Ngoài ý nghĩa đó ra, không còn mục đích nào khác. Tại vì mục đích Phật thuyết để chúng sanh giác ngộ, chứ không phải Phật thuyết cho chúng sanh hô mưa gọi gió rồi điều khiển quỷ thần làm gì đâu? Cho nên khi mình đi về nguồn gốc các tư tưởng mình dung hợp lại rồi trạch pháp, đi về đúng đạo lộ của những vị Bồ Tát, trên cái tư tưởng của Đức Phật, phán định. Lúc bấy giờ Thiền, Tịnh, Mật, khi con hiểu rồi, con thấy nó là một thôi. Tại vì tất cả pháp môn đều đưa về sáng tâm là chính, để ngộ đạo là chính, chấm dứt sanh tử, đau khổ chỉ bấy nhiêu đó! Nhưng bây giờ chúng sanh căn cơ khác nhau, mình phải tùy theo căn cơ để truyền dạy, để giúp họ giải thoát. Người thích Tịnh Độ, thì pháp môn Tịnh Độ là nhất. Người nào thích Mật Tông, thì Mật Tông là nhất. Còn vị nào đã phát Bồ Đề Tâm thật sự thì phải liễu triệt được các Pháp, phải: Quảng học đa văn, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu biện tài, giáo hóa khắp hết; đó là mục đích của Bồ Tát. Cho nên, đã gọi là thực hành hạnh Bồ Tát, thì anh phải liễu tri tất cả các Pháp, mà khi đã biết rồi thì thực sự nó đi về một nguồn thôi. Cho nên khi con học Tịnh Độ con thấy không, nếu như mà Thầy xiển dương Tịnh Độ thì thiệt ra nó hơn Mật Tông chứ. Nếu mà xiển dương Tịnh Độ thì lập ra sự so sánh: đâu có cần phải kiết đàn, đâu cần bắt ấn, đâu có cần quán tưởng gì mà quá kinh khủng? Chỉ cần nương vào Danh Hiệu của Đức Phật, Trì Danh rồi quán chiếu thực tướng các Pháp trong niệm Phật lý tánh thì hành giả có thể giác ngộ tức thời. Mà khi hành giả quán tưởng Đức Phật thì thành tựu 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp giống như trong Kinh Vô Lượng Thọ đã nói. Thế thì Tịnh Độ cũng thù thắng như  Mật Tông. Nếu xiển dương Mật Tông thì Thầy cũng sẽ nói: Đây là đại Pháp tối thượng nhất, vì sao? Chân Ngôn là ngôn ngữ bí mật, nó gồm thâu và nhiếp hết thảy thần lực, trí lực, nguyện lực, phương tiện lực... của chư vị Bổn Tôn. Chỉ cần con nhất tâm và hưng khởi Bồ Đề Tâm trì niệm thì công đức và phước báo không thể nghĩ bàn, sự thành tựu cũng không thể nghĩ bàn... hoặc thí dụ con chí thành trì niệm Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn với Bồ Đề Tâm dù chỉ một biến, thì khi lâm chung, Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ hiện thân tiếp dẫn con đi vào lỗ chân lông của Ngài, ở đó con tru tập đến khi thành Phật, trong lỗ chân lông của Bồ Tát  Quán Thế Âm có cả mười phương Tịnh Độ của chư Phật trong đó, con phải biết Bồ Tát Phổ Hiền vào trong lỗ chân lông của Bồ Tát Quán Thế Âm 12 năm mà không biết biên giới... Vậy thì pháp môn Mật Tông quả thực rất thù thắng đúng không? Pháp môn thù thắng hay không là do người xiển dương có đủ biện tài và trí tuệ hay không. Mà một điểu cần lưu ý, pháp môn Tịnh Độ thật sự rất dễ tu dễ chứng, ứng hợp với cả ba căn, nhất là trông đời Mạt Pháp này. Con cứ nghĩ những đứa trẻ, thuốc đưa đắng nó không uống, buộc con bọc đường, đưa nó mới uống. Các pháp môn cũng vậy, đó là phương tiện của các vị Bồ Tát, phương tiện của Đức Phật mà thôi. Cho nên một khi con đi về trí tuệ chân thật của Đức Phật thì nó không hủy hoại các Pháp và nó cũng không hủy hoại các Tông Phái. Lúc bấy giờ con biết uyển chuyển biết tùy cơ mà con hóa độ, mà hoằng pháp lợi sanh. Khi con liễu triệt được rồi thì con thấy Giáo Pháp của Đức Phật tu là giải thoát. Dù Pháp nào chăng nữa cũng đi về cái gốc chính là sáng tâm, ngộ đạo, làm chủ sanh già bệnh chết, đoạn tận tất cả sự đau khổ. Cho nên khi con nắm được rồi thì con thấy nói tóm đi tóm lại thì tu hành cũng không có gì vượt ngoài thân tâm này hết. Khi con liễu triệt được Tam Tạng Kinh Điển, con thấy việc hành pháp này hoàn toàn khế hợp theo ý của Đức Phật bởi vì bây giờ nếu con tu Tịnh, tu Mật mà con không liễu ngộ được thân tâm thì con vô tình biến Pháp Phật thành Pháp tà. Như bây giờ thiệt ra Mật Tông đã bị biến chất rất là nhiều, bởi vì sao, bây giờ họ biến cái giáo lý Đức Phật thành cái lập đàn để giải yêu, trừ tà, trừ ma, cầu tài, cầu phước. Ngày xưa Đức Phật vẫn thuyết các Chân Ngôn để chúng sinh có thể nhiếp phục, nhưng đó là nhiếp phục khi quá cần thiết để con có thể ứng dụng Phật Pháp độ sanh, mà bây giờ người ta biến nó như thần giáo để gom về cái danh cái lợi... Thì con thấy nó sai hoàn toàn với giáo lý Đức Phật. Cho nên con thấy khi mà mình thẩm thấu tất cả các Kinh Điển thì thiệt ra nói thẩm thấu hết Kinh Điển là không thể nhưng mình có thể liễu ngộ được cái ý chính. Ví dụ như bây giờ hệ Bát Nhã, con chỉ cần liễu tri tư tưởng của Bát Nhã, hành thâm chiếu kiến ngũ uẩn giai không thì cả cái hệ Bát Nhã con không cần đọc con vẫn hiểu ý của nó, ví dụ như vậy đó con!

Cho nên người mà phát khởi Bồ Đề Tâm, thì đúng là cái vị này phải có một trí tuệ, giống như con rồng có thể nuốt hết nước của bốn biển. Giống như mình là Pháp vương tử thì mình phải nuốt hết tất cả các Pháp của Đức Phật, rồi mình phải thẩm định đi như thế nào, bước 1, bước 2, bước 3, giống như bây giờ Thầy nói bước 1 phải nắm hết cái căn bản cho Thầy, nắm hết tất cả Pháp và Tùy Pháp Hành, rồi bước 2 mới cho mọi người vào chuyên sâu, chẳng hạn. Nhưng bây giờ dường như việc khế hợp tất cả các thừa dường như rất hiếm. Tất cả đa phần xiểng dương cành nhánh theo Thánh giáo cũng như truyền thừa từ Tổ. Điển hình như 1 số quan điểm cho rằng Nguyên Thủy là đệ nhất giống như là các hệ phái tư tưởng. Trong khi có tư tưởng đối lập, cho Nguyên Thủy là chồi khô mọng lép, tiêu nha bại chủng nên xem nhẹ, không tu và nâng cao tư tưởng của Đại Thừa. Mà thiệt ra tư tưởng Đại Thừa mà con không liễu ngộ được thân tâm thì con cũng đi về tư tưởng của Bà La Môn giáo. Bởi vì, nếu như con không thấy được thực tại của thân tâm mà tu thì tu cái gì? Rồi suốt ngày mình nói Tánh Không, mà thực chất đụng duyên thì cái gì cũng có, rồi sao ngộ được cái Không? Cho nên cái hệ phái nó không sai, nhưng người dụng có phần lệch thì lại rất là nhiều. Con học qua các hệ phái như Dị Tông Luận để mình biết được rằng các tư tưởng của các Hệ phái là như thế nào, nhưng mà mình phải để ý vượt qua các tư tưởng đó để mình quay về cái tư tưởng chánh thống của Đức Phật để tuyển chọn. Tuyệt đối mình không dùng pháp để hý luận. Cần quyết nghi với tư tưởng rằng học để tu, tu để chứng, tu chứng rồi dùng phương tiện khéo léo để làm lợi ích chúng sinh. Cho nên con cần trạch pháp, quyết nghi và tuyển chọn pháp. Cố gắng!

Câu chuyện giữa hai thầy trò cũng đã kết thúc, và cơn mưa lúc này cũng dần tạnh. Nhưng có vẻ như tâm vị hành giả ấy cũng dần sáng lên và như đã uống trọn cam lồ Pháp từ lời dạy của Sư Phụ Long Viễn. Cảm tạ ân sư ra về, vị ấy như thay da đổi thịt trong khoảnh khắc ấy. Vừa đi, vừa ngân nga câu 2 thơ của Sư Phụ:

“Xoay lại tâm không hà xứ nghiệp

Thức tình vọng biến, Bát nhã khai …”




Thứ Hai, 2 tháng 8, 2021

            HUẤN THỊ CHO MỘT HÀNH GIẢ CAO CẤP (Phần II)


 2. TỰ TÁNH NIỆM PHẬT

Đệ Tử: Dạ, Nam Mô Phật, thưa Sư Phụ con muốn hiểu và rõ cái chỗ đó để con thực hành, con muốn hỏi thêm trên cái điểm quay về giác lại nội tâm của mình. Nhưng con đi ra một chút xíu để câu hữu với Pháp hành của Pháp môn niệm Phật. Ví dụ, khi con niệm Phật con cũng đang tập quán chiếu về tự tánh. Trước hết, con quán 6 Xúc Xứ trước để mình thấy rõ cái Vô ngã của thân tâm này, rồi sau đó con tu Bồ Đề Tâm, và cuối cùng con tới phần niệm Phật. Khi niệm Phật thì con nương vào cái câu niệm Phật là trên từ ngữ nhưng lúc đó tâm trí mình dùng cái biết để mình phân minh, trạch Pháp, quán trạch một cách rõ ràng nhìn rõ cái tự tánh thực ra người ngồi đây, thân này mình vừa quán xong là không, tâm cũng là không, câu niệm Phật cũng là không và cái cõi mình đang hướng tới, tức là trên sự mình vẫn hướng tới quán tưởng cái Chánh báo, Y báo của cõi Cực Lạc. Đó là hình ảnh Đức Phật A Di Đà và cõi Cực Lạc có 7 báu, hồ sen như trong Kinh. Nhưng một niệm mình soi về liên tục tất cả những cái đó cũng từ tâm mình mà ra, như vậy có mà lại không, mình cũng không mong cầu, tức là cái chỗ đó mình sẽ tới nhưng mình cũng không mong cầu. Hơi khó diễn tả, nhưng ý là khi mình niệm Phật, không phải là mình chỉ ngồi niệm không và không nghĩ gì hết mà khi con đang niệm Phật con vẫn suy nghĩ, vẫn tư niệm về cái điều đó, thì không biết con hành trì như vậy có chỗ nào chưa đúng không, thưa Sư Phụ?

Sư Phụ: Không con! Con niệm như thế là đúng rồi! Con thấy pháp mônTrì Danh phần lớn dành cho bậc hạ căn (phần lớn nha). Đương nhiên, những bậc thượng căn họ vẫn Trì Danh. Con hiểu không? Trì Danh là mình cứ “Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật” như thế. Nhưng mà bậc thượng căn thì họ lại niệm Phật nhưng mà lại niệm cái Giác tánh Phật ở trong mình đó con, con hiểu không! Tức là con phát Bồ Đề Tâm, con nguyện sanh về Tây Phương, giống như Đức Phật khai thị cho Phụ Vương của Ngài bằng pháp môn Tịnh Độ. Kinh Bảo Tích ghi lại rằng, khi vua cha hỏi “Làm sao tu hành để được đạo của chư Phật?”. Và đức Phật đáp rằng: “Tất cả chúng sinh đều là Phật. Nay Phụ Vương nên niệm Phật A Di Đà ở thế giới Tây Phương, thường siêng năng tinh tấn thì sẽ được Đạo của chư Phật”. Nhưng con cần lưu ý chỗ này: nếu trong tâm con chỉ còn nhớ nghĩ đến Ngài là một, hai là khi con đối duyên xúc cảnh con ứng dụng Chánh Niệm Tỉnh Giác để con đốn phá tất cả các kiết sử và con giác ngộ thì đó là cách niệm Phật mà Đức Phật hoan hỷ nhất. Thì với việc này là con đã niệm Phật chứ không phải con bắt buộc phải trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Thì đây là các món trong bốn phần cúng dường đó con (bên ngoài, bên trong, bí mật và như như), cái bí mật và cái như như đó con.

Đệ Tử: Dạ thưa sư phụ, ngay cái chỗ con nhớ nghĩ đến Phật, con chánh niệm tỉnh giác khi đối duyên xúc cảnh là chỗ cúng dường “bí mật và như như” bằng sự niệm phật trong tự tánh phải không thưa Sư Phụ?

Sư Phụ: Đúng rồi con! Cho nên mình không cần niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, chỉ cần con nhớ Phật là được, con hiểu không? Chỉ cần con nhớ nghĩ đến Ngài và con có một ý niệm khát khao để mình sanh về cõi Tây Phương để mình viên thành bổn nguyện. Nhưng hiện tiền thì con có thể đôi lúc mình nhớ thì mình trì niệm còn nếu không con chỉ cần quán chiếu trong thực tướng của các Pháp để mình tu, thì đó là cách niệm Phật mà Đức Phật hài lòng nhất!




Thứ Năm, 29 tháng 7, 2021

HUẤN THỊ CHO MỘT HÀNH GIẢ CAO CẤP (Phần I)

Một buổi chiều vào thu, một vị hành giả đã tìm đến Sư Phụ Long Viễn để thỉnh ý một số thắc mắc về pháp hành của mình. Trong các se lạnh của mùa thu bên bờ suối, Sư Phụ, mặc dù đang an thất bán phần nhưng cũng rất từ bi tiếp vị hành giả ấy, để giúp vị ấy phá nghi, viên chứng cùng tột việc xoay lại chính tự tánh của mình. Sau đây là đoạn hội thoại của vị hành giả, đệ tử và Sư Phụ Thượng Long Hạ Viễn

1. TỰ TÁNH TỘI PHƯỚC

Hành giả: Thưa Sư Phụ, trong câu chuyện Sư Phụ kể về Thiền sư Cao Phong Diệu với 2 lần gặp Ngài Vi Đà, lần thứ nhất Thiền Sư Cao Phong Diệu đã sinh tâm cống cao do mình tu tốt nên Hộ pháp Vi Đà mới đến cứu, nên Vi Đà Hộ pháp đã hiện thần sân và tuyên bố tám vạn đại kiếp sẽ không hộ pháp cho Thiền Sư. Nhưng sau đó, Ngài Cao Phong Diệu sanh tâm hổ thẹn, và sau đó Ngài hổ thẹn với chính mình và quyết chí tu tập tiếp như trước đây thì, ngay lập tức ngài Vi Đà đến hộ Pháp cho ông ấy, chỗ này là tội phước vốn không khi mình xoay tâm lại phải không, thưa Sư Phụ?

Sư Phụ: Đúng rồi con, con đã hiểu rồi đó. Khi mình làm cái gì, mình quán chiếu mình, giác lại nội tâm của mình thì ngay lập tức bao nhiêu nghiệp chướng từ vô lượng tan rã hết. Cho nên, trong thế gian, nếu con biết dụng thế gian để con tu, con biết dụng, ví dụ như cuộc sống gia đình, mình chấp thủ con cái, … nhưng một thời gian nếu như con biết dụng công con tu, con quán Vô Thường, con quán 6 Xúc Xứ, con quán Duyên Khởi thì con thấy rằng tất cả đều là duyên, lúc bấy giờ con sẽ thấy tại sao từ xưa đến nay cuộc sống của phàm phu mình cứ chấp thủ rằng đây là cuộc sống của chính mình và mình còn xem trọng hơn chính mình nhưng mà khi con quán một thời gian con xem như là một cuộn phim thôi! Và con chỉ là người diễn trong vai đó! Lúc bấy giờ con thấy như thế thì con mỉm cười thôi. Mình sẽ thấy rằng giống như là giấc mơ này con sẽ tỉnh dần, tỉnh dần từng bước, khi mà con biết ứng dụng cuộc sống, đi vào công phu tu tập. Tức là những việc thường tình, đối duyên xúc cảnh trong cuộc sống, nếu con biết dụng, con quán cái cảm thọ, rồi con quán 3 cái tâm: Tâm quá khứ, Tâm hiện tại và Tâm vị lai, thì tâm nào được cái việc này, con quán chiếu như thế! Như trong kinh Kim Cang Đức Phật đã dạy rất rõ: “Như Lai nói các thứ tâm đều chẳng phải tâm, đó gọi là tâm. Tại sao thế? Này Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ không thể được, tâm hiện tại không thể được, tâm vị lai không thể được.”

Đó, tiếp đến, con quán chiếu rằng những hành động của quá khứ đã chấm dứt. Thế thì, tại sao mình lại ức chế tâm, trạo hối tâm, tuôn trào tâm? Cho nên con biết có những vị một khi đã phá giới rồi thì sự ức niệm phá giới nó khiến họ không thể yên, thậm chí vị ấy có thể hộc máu tươi, hoặc khi nhập định vị ấy có thể bị điên loạn, mất trí và không nhập định được. Chỗ này là bởi vì họ không có thể thấy được rằng:

 Tội tánh vốn không, do tâm tạo

Tâm nếu diệt thì tội diệt vong

Tội vong tâm diệt thảy đều không

Thế mới thật là chơn sám hối

Cho nên con thấy rằng, chính cái Tâm này, là kẻ chủ mưu. Ý niệm của nó, nó là cái thằng sai xử. Nó cho đây là thiện là bất thiện. Rồi nó định hình, đóng khung tư tưởng cái thiện; rồi nó lại đóng khung cái tư tưởng bất thiện... Chính vì nó đã đóng khung cái tư tưởng đó cho nên khi tạo nghiệp, ngay lập tức vị ấy luôn ám ảnh, không quên. Và vì thế, cái Nghiệp đó nó mới thành hình vì Nghiệp là hành động tạo tác có chủ ý. Còn hành động tạo tác không có chủ ý thì không gọi là Nghiệp, mà gọi là là vô tác. Cho nên khi chúng sinh tạo nghiệp thì có ý niệm chấp thủ. Do cái ý niệm chấp thủ này mà chúng sanh trôi nổi. Chính vì thế, khi mà con tu, con dụng công quán chiếu quay trở lại: Cái tâm quá khứ phải mình không? Cái tâm hiện tại phải mình không? Cái tâm vị lai phải mình không? Hoàn toàn không! Nó chỉ là một dòng chảy tương tục của tâm - ý - thức mà thôi. Thế thì tại sao trong cái dòng tương tục này mình lại có một cái móc câu để mình lôi mình lại? Cho nên con dùng cái tâm đó để con đi vào trong thiền định. Và mục đích của việc con quán 6 Xúc Xứ cũng vậy. Để con diệt trừ tất cả các chướng ngại, nhất là nghiệp chướng, nó xâm chiếm con rất là ghê gớm. Cho nên khi mà con quán chiếu thấy rõ như thật thân này là không, tâm này là không, và thân không - tâm không qua từng thứ lớp. Và nương theo công phu liên tục hằng ngày của con, dần dần tiến triển con sẽ ngộ từ từ. Và khi ngộ dần, ngộ dần vấn đề đó, thì tự dưng con giống như người thay da, đổi xác.